Friday, October 23, 2026

"Chống lật sử" mâu thuẫn với đạo đức của các nhà giáo, nhà khoa học

Nhiều cựu chiến binh, đảng viên thường xuyên cáo buộc ngành giáo dục là "lật sử" (hay còn gọi là xuyên tạc lịch sử). Theo họ, bất kể cái gì trái với quan điểm chính thống của Đảng đều bị coi là “lật sử”. Tuy nhiên, đối với các nhà giáo, nhà khoa học chân chính, quan niệm “chống lật sử” này rất kỳ quặc bởi mâu thuẫn với đạo đức nghề nghiệp của họ. Hơn nữa, quan điểm chính thống của Đảng cũng biến đổi theo thời gian. Có nhiều quan điểm phản khoa học, hoặc đã lỗi thời, không theo kịp sự tiến bộ của xã hội, cho nên không thể được coi là chuẩn mực. Phần dưới đây giải thích về những điều này.

 

1. GIỚI KHOA HỌC KHÔNG MẶN MÀ VỚI “CHỐNG LẬT SỬ”

1.1. Đạo đức của giới khoa học

Trong giới sử học nói riêng, khoa học xã hội nói chung, không có “lằn ranh đỏ” nào không thể vượt qua. Không có nhân vật, sự kiện, thời kỳ lịch sử nào được miễn trừ “xét lại”. Mọi chủ đề lịch sử đều cần được "đào xới” thường xuyên. Mọi đánh giá, diễn giải đều được lắng nghe nếu có đôi chút cơ sở khoa học, bất chấp thiên hướng chính trị của tác giả. Một hoạt động thường xuyên của giới sử gia Việt là nghiên cứu các công trình của giới sử gia quốc tế, tổ chức hội thảo, trao đổi quan điểm với họ về các vấn đề lịch sử nước mình, mặc dù nhiều người trong số đó có góc nhìn trái ngược với quan điểm chính thống ở Việt Nam.

 

“Chống chủ nghĩa xét lại” chỉ là một trào lưu lạc lõng của một nhóm người theo chủ nghĩa Marx-Lenin. Trào lưu này không phù hợp với đạo đức của giới sử học hiện đại bởi lẽ họ thường xuyên phải lắng nghe những quan điểm “xét lại” với tinh thần cởi mở, cầu thị.

 

"Tứ trụ" của ngành sử học - Lâm, Lê, Tấn, Vượng - đều cho rằng sử gia cần phải khách quan, trung thực. GS. Đinh Xuân Lâm và GS. Hà Văn Tấn đều có bài viết khẳng định rằng nhà sử học cần tôn trọng “sự thật khách quan” [1][2]. GS. Phan Huy Lê và GS. Trần Quốc Vượng từng bị nhiều kẻ ngoại đạo chụp mũ “lật sử” cũng vì không hiểu đạo đức của ngành sử học. Nhiều học trò của họ như GS. Vũ Minh Giang, GS. Phạm Hồng Tung, PGS. Trần Đức Cường, PGS. Nguyễn Mạnh Hà, NNC Dương Trung Quốc... cũng từng có những phát ngôn khác với quan điểm “chính thống”, điều khiến cho những kẻ thiếu hiểu biết lên án họ là “lật sử”.

 

Tôn trọng “sự thật khách quan” bao gồm hai đặc điểm chính:

+ Tôn trọng sự thật thực tế: Đó là tôn trọng những sự kiện, nhân vật, mốc thời gian hay hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ mà không ai có thể thay đổi hay phủ nhận. Ví dụ, Hiệp định Paris được ký kết tháng 1/1973 là một sự kiện có thật, đã được nhiều tài liệu thuộc nhiều quốc gia, phe nhóm chính trị khác nhau ghi nhận.

+ Tôn trọng tính khách quan trong nghiên cứu lịch sử: (i) Nhà nghiên cứu phải dựa trên chứng cứ khoa học, không được thêu dệt, suy đoán chủ quan; (ii) Không để cho tình cảm cá nhân, lập trường chính trị, ý thức hệ bóp méo, tô hồng hoặc bôi đen sự thật; (iii) Mọi nhân vật, sự kiện, thời đại lịch sử cần phải được đánh giá toàn diện, xem xét kỹ lưỡng cả mặt tích cực và tiêu cực.

 

Quan điểm “chống lật sử” nêu trên rõ ràng đi ngược lại với nguyên tắc tôn trọng “sự thật khách quan” của giới sử học. Quan điểm chính thống (trên báo chí, sách giáo khoa, tài liệu lịch sử) hiện nay là tô hồng chế độ, tô hồng đảng cộng sản, các lãnh tụ tiền bối, và các thành quả của cách mạng; phớt lờ hoặc giảm nhẹ những mặt xấu của các thể chế/nhân vật đó. Trong khi đó, đạo đức của giới sử học đòi hỏi phải xem xét toàn diện và trung thực cả mặt tốt và mặt xấu của các đối tượng nghiên cứu đó. Ví dụ, các sử gia cần trung thực trả lời các câu hỏi:

+ Mặt tích cực và tiêu cực của việc áp dụng chủ nghĩa cộng sản ở nước ta? Đó có phải là một lựa chọn sai lầm hay không?

+ Mặt tích cực và tiêu cực của cuộc kháng chiến chống Pháp? Đó có phải là một cuộc chiến sai lầm hay không?

+ Mặt tích cực và tiêu cực của cuộc kháng chiến chống Mỹ? Đó có phải là một cuộc chiến sai lầm hay không?

+ Mặt tích cực và tiêu cực về nhân cách và năng lực lãnh đạo của ông Hồ và các nhà lãnh đạo tiền bối?

+ Trong hơn 80 năm cầm quyền, đảng cộng sản đã đạt được những thành tựu nào và phạm phải những sai lầm nghiêm trọng nào?

v.v…

 

Có nhiều lý do khiến giới sử học cần theo đuổi sự thật khách quan. Thứ nhất, việc phản ánh khách quan giúp tái hiện bức tranh quá khứ gần nhất với sự thật vốn có. Nếu để thiên kiến chủ quan chi phối thì lịch sử sẽ trở thành tác phẩm hư cấu, làm mất đi tính khoa học. Thứ hai, lịch sử không nên trở thành công cụ tuyên truyền, phục vụ lợi ích phe nhóm, hoặc vì mục đích chính trị ngắn hạn mà cần phải phục vụ lợi ích lâu dài của dân tộc. Thứ ba, lịch sử phải trở thành tấm gương cho hiện tại và tương lai cho nên không thể bị bóp méo khiến độc gỉa rút ra bài học sai lầm. Thứ tư, đảm bảo sự thật khách quan sẽ giúp các nhà nghiên cứu có góc nhìn khác nhau có cơ sở để đồng thuận.

 

Giống như các nhà khoa học khác, các sử gia có nhiệm vụ cố vấn cho các cơ quan chính phủ về lĩnh vực chuyên môn. Việc đảm bảo tính khách quan trong sử học, và khoa học nói chung, vô cùng quan trọng bởi lẽ đã có rất nhiều chủ trương sai lầm do chủ quan, duy ý chí. Một số ví dụ ở Việt Nam là đấu tố trong Cải cách Ruộng đất, áp dụng Kinh tế Kế hoạch trên toàn quốc, các chiến dịch Đánh Tư sản, và thực thi Chủ nghĩa Lý lịch sau 1975. Những chủ trương này đều không dựa trên cơ sở khoa học nghiêm túc dẫn đến những hậu quả hết sức nặng nề.

 

Lịch sử là một lĩnh vực thú vị nhưng không quá khó để tìm hiểu. Nghiên cứu lịch sử thường không đòi hỏi được đào tạo bài bản kiến thức chuyên sâu giống như một số lĩnh vực khác, chẳng hạn vật lý hạt nhân. Thế nên nhiều nhà nghiên cứu nghiệp dư đã đầu tư thời gian, công sức để tìm hiểu lịch sử. Đôi khi, họ tìm thấy những bằng chứng có giá trị hoặc đưa ra những đánh giá/diễn giải mới mẻ, độc đáo ngay cả đối với các nhà sử gia chuyên nghiệp. Các nhà sử học chuyên nghiệp thường trình bày quan điểm của họ trên các tạp chí khoa học, ấn phẩm chuyên ngành, các hội thảo trong nước, quốc tế, và cả trên truyền thông đại chúng.

 

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nghiệp dư thường không có các cơ hội ấy. Nơi chủ yếu để họ nêu quan điểm là mạng xã hội và các ấn phẩm nghiệp dư. Việc trừng phạt họ chỉ vì họ nói trái với ý Đảng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do ngôn luận và những đóng góp hữu ích của họ cho ngành sử học, và xã hội nói chung.

 

1.2. Ứng dụng sử học vào cuộc sống

 

Ứng dụng sử học vào cuộc sống nghĩa là áp dụng kiến thức lịch sử vào các lĩnh vực xã hội khác nhau, chẳng hạn như biên soạn sách giáo khoa lịch sử, trình bày quan điểm lịch sử trên truyền thông đại chúng, đặt tên đường phố, công trình, bảo tồn di sản văn hoá. Việc ứng dụng này thường được chính trị hoá theo quan điểm của đảng cầm quyền.

 

Tuy nhiên, lịch sử là một ngành khoa học cơ bản, nơi giá trị cốt lõi nằm ở việc truy tìm sự thật hơn là ứng dụng thực tiễn. Thế nên nhiều sử gia thường bối rối khi ứng dụng sử học bởi dễ mâu thuẫn với đạo đức nghề nghiệp. Mặc dù là Tổng Chủ biên của Bộ sách Giáo khoa Lịch sử, GS. Vũ Minh Giang vẫn cảm thấy phiền toái khi phải áp đặt chính trị vào khách quan lịch sử để dạy học sinh [3]. GS. Phạm Hồng Tung thì cảm thấy khó hiểu khi một số cựu chiến binh kiến nghị ban hành “Luật bảo vệ sự thật lịch sử”. Bởi lẽ theo ông, các sử gia luôn phải sẵn sàng đón nhận những bằng chứng mới, những đánh giá/diễn giải mới.

Mặt khác, quan điểm lịch sử chính thống cũng không bất biến theo thời gian. Lấy ví dụ, các tài liệu Việt Nam trước 1985 thường ca ngợi kinh tế kế hoạch, coi kinh tế thị trường là phản động. Buôn bán tư nhân bị coi là “phe phẩy” theo nghĩa xấu. Tuy nhiên, từ sau 1985, kinh tế kế hoạch bị chỉ trích, kinh tế thị trường lên ngôi. Doanh nhân là tầng lớp được kính trọng. Sau khi có Nghị Quyết 36-NQ/TW, các tài liệu lịch sử viết về chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng đã giảm bớt sự thù địch, nhấn mạnh đoàn kết dân tộc. Việc tiếp tục dựa trên những quan điểm chính thống đã lỗi thời có thể dẫn đến nhiều nguy hại cho quốc gia.

 

 

2. NGÀNH GIÁO DỤC LUÔN KHUYẾN KHÍCH TƯ DUY PHẢN BIỆN

 

Hầu hết giáo viên giảng dạy môn lịch sử ở bậc phổ thông đều tốt nghiệp đại học ngành lịch sử. Họ được đào tạo bởi các giáo sư sử học cho nên được truyền dạy đạo đức cốt lõi của giới sử học là tôn trọng sự thật khách quan. Đặc biệt, ngành giáo dục hiện đại luôn chú trọng rèn luyện tư duy phản biện và tự do tư tưởng cho học sinh. Đây là những công cụ cơ bản để kích thích khả năng tư duy độc lập và sáng tạo của thanh thiếu niên. Tư duy phản biện và tự do tư tưởng sẽ khuyến khích học sinh lắng nghe và chấp nhận những ý kiến khác biệt, đa chiều.

Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là giảng dạy học phần lịch sử thế kỷ XX-XXI, giáo viên bắt buộc phải tuân theo các định hướng chính trị chính thống. Điều này có thể tạo ra mâu thuẫn với đạo đức nghề nghiệp của nhà giáo. Ngược lại, khi giảng dạy các học phần lịch sử từ thế kỷ XIX trở về trước, giáo viên có nhiều tự do hơn, do các học phần này ít nhạy cảm hơn.

 

Không thể ngăn cấm học sinh cũng như công dân nói chung tìm hiểu toàn diện, cả mặt tốt và mặt xấu, về các nhân vật, sự kiện, thời đại lịch sử. Dù không được giáo viên hướng dẫn đầy đủ, học trò vẫn có thể tự tìm hiểu về giai đoạn lịch sử thế kỷ XX, XXI từ các thông tin ngoài nhà trường. Hơn nữa, việc khuyến khích tư duy cởi mở, và tôn trọng các góc nhìn khác biệt đã trở thành chuẩn mực đối với tất cả các môn học. Lịch sử không phải là ngoại lệ.

 

Giáo dục phổ thông ở các nước phát triển cũng bị chính trị tri phối. Tuy nhiên, học sinh, sinh viên được khuyến khích tự do nghiên cứu. Họ được tự do tổ chức hội thảo, diễn thuyết về các chủ đề chính trị, lịch sử mà họ quan tâm, kể cả những chủ đề mà chính quyền không thích. Họ có thể nêu những quan điểm trái với quan điểm chính thống mà không bị trừng phạt.

 

 

3. XU THẾ LẠM DỤNG “CHỐNG LẬT SỬ”

 

Công bằng mà nói, nhiều nước phát triển trên thế giới cũng chính trị hoá lịch sử để tuyên truyền, giáo dục công dân, nhằm bảo vệ chế độ. Điều khác biệt là ở chỗ, ở các quốc gia văn minh, những người có quan điểm khác với đảng cầm quyền thường không bị xử phạt.

 

Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều điều luật mơ hồ liên quan đến đảng cộng sản, chế độ, lãnh tụ, cách mạng, khiến công dân rất dễ bị phạt tiền thậm chí phạt tù. Mới đây, việc Bộ Công An đề nghị bổ sung tội danh liên quan đến chống Đảng Cộng sản vào Bộ Luật hình sự là một diễn biến nguy hiểm. Nghị định 328/2026/NĐ-CP về “Quy định phòng, chống tin giả, tin sai sự thật” định nghĩa “Tin giả, tin sai sự thật là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội…” Định nghĩa như vậy rất bậy bạ bởi vì khái niệm “xâm hại” hết sức mơ hồ, dễ bị lạm dụng. Nhiều lãnh đạo quốc gia thường kêu gọi các cấp chính quyền phải lắng nghe ý kiến phản biện. Tuy nhiên, với hệ thống luật pháp tuỳ tiện như vậy, sẽ chẳng mấy ai dám phản biện.

 

4. THAY CHO LỜI KẾT

 

Quan niệm “chống lật sử” (theo nghĩa chống lại những quan điểm trái với quan điểm chính thống) có nhiều mâu thuẫn với đạo đức của các nhà giáo, nhà khoa học nói chung, không phải chỉ riêng ngành lịch sử. Quan niệm này cũng cản trở việc xây dựng một xã hội văn minh, nơi những người có ý kiến khác biệt có thể chung sống hoà bình với nhau và quyền tự do ngôn luận của công dân được bảo vệ.

 

Các nhà giáo, nhà khoa học chân chính cần cương quyết bảo vệ sự thật khách quan, khuyến khích tư duy đa chiều, tôn trọng khác biệt của học sinh, sinh viên, và công dân nói chung.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]https://daidoanket.vn/gs-dinh-xuan-lam-nha-su-hoc-phai-khach-quan-va-trung-thuc-10066542.html

[2] https://vanviet.info/tu-lieu/lich-su-su-that-va-su-hoc

[3] https://nguoidothi.net.vn/gs-tskh-vu-minh-giang-phai-dat-loi-ich-quoc-gia-len-tren-y-thuc-he-13396.html

 

 

 

No comments:

Post a Comment