Tuesday, January 23, 2024

THƯ GỬI THỦ TƯỚNG: Báo động về phong cách hàn lâm thiếu chuẩn mực và phong trào đội lốt bảo vệ liêm chính để bôi nhọ các nhà nghiên cứu và các cơ sở học thuật

Trong lá thư này, tôi bàn về hiện tượng đội lốt bảo vệ liêm chính và chất lượng học thuật để đấu tố các cá nhân và tổ chức và các dạng đội lốt khác. Tôi cũng đề xuất với chính phủ 14 biện pháp để loại trừ hiện tượng đó. 

https://docs.google.com/document/d/1Y7p4FzFtr1vxpv-Fb7W0NyEbwCDPvlJG/edit?fbclid=IwAR3XudsdPPjg6BTplg56KEPTNUQc0DSk2nngAsm9hr-iTcqBsPiTSlQM2qI&pli=1

Nguyễn Ánh là hậu duệ của một phe chia cắt đất nước

Nguyễn Ánh tướng tá tiểu nhân, tội “cõng rắn cắn gà nhà” đã rõ như ban ngày. Việc ông ta cầu viện đã dẫn đến quân Xiêm tràn sang nước ta. Việc ông ta gửi Hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc sang Pháp ký kết thoả ước nhượng đảo Conlon cho Pháp nếu Pháp giúp ông ta đánh Quang Trung thành công là một bằng chứng hùng hồn khác.

Không thể nói rằng thời đó đã có nhiều người phương tây ở VN cho nên việc ông ta cầu viện không có ý nghĩa gì. Bởi lẽ, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lời cầu viện của ông ta trước đó mang ý nghĩa là phát biểu của nguyên thủ quốc gia. Giả dụ Cảnh Thịnh vẫn nắm quyền, người Pháp sẽ không có động lực để nhòm ngó VN bởi không rõ quyết tâm chống Pháp của ông thế nào.

Trên thực tế, bản thân hành vi hứa cắt đất để cầu ngoại bang giúp mình tranh quyền lực đã đem đến nguy cơ ngoại bang chiếm luôn VN. Thành ngữ "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi về giày mả tổ" ở đây vô cùng chính xác.

Bỏ qua việc ông ta trả thù Quang Trung bởi trước đó Quang Trung cũng truy sát dòng họ nhà ông ta. Tuy nhiên, việc ông ta trả thù man rợ mẹ con nữ tướng Bùi Thị Xuân đã thể hiện bản chất hèn mạt.

Nhiều người cho rằng ông ta thống nhất đất nước. Đinh Tiên Hoàng một tay dẹp toàn bộ 11 sứ quân cho nên mới được coi là thống nhất đất nước. Nhưng trường hợp Nguyễn Ánh thì hoàn toàn khác, bởi Nguyễn Huệ đã có công “đánh đông, dẹp bắc”, sự nghiệp thống nhất đã gần xong. Nói dân dã kiểu thợ xây thì ông Huệ đã xây gần hết ngôi nhà, ông Ánh chỉ xây cái chuồng heo. Sau khi ông Huệ qua đời, con ông Huệ sống trên nhà, còn ông Ánh vẫn sống dưới chuồng heo. Việc ông Ánh tiêu diệt con ông Huệ để cướp ngôi nhà không phải là bằng chứng để coi toàn bộ công lao xây dựng ngôi nhà là của Ánh. Phần lớn công lao thống nhất đất nước vẫn là của ông Huệ.

Còn nếu tính từ 1777, sau khi Nguyễn Huệ tấn công Đàng Ngoài, lật đổ Chúa Trịnh, phá bỏ chia cắt ranh giới Đàng Trong - Đàng Ngoài, thì đã thống nhất đất nước về cơ bản, trong khi Nguyễn Ánh vẫn đang chui lủi, chạy trốn, không có một quân đội ra hồn. Cái này giống như phá tường Berlin được coi là biểu tượng thống nhất nước Đức.

Cần nhớ rằng chính dòng họ nhà Nguyễn Ánh là một phe gây ra sự chia cắt đất nước. Nguyễn Huệ muốn thống nhất nên đã đánh đuổi họ hàng nhà Ánh. Nguyễn Ánh đã không làm gì để ngăn tội lỗi của họ hàng, mà lại đánh Nguyễn Huệ để phục thù. Vậy làm sao có thể tính là ông ta có công thống nhất đất nước?

Vụ đặt tên VN chỉ là một thủ tục, chả tốn công sức gì để đáng gọi là công lao. Trước đó VN đã nhiều lần được đặt tên nhưng chưa bao giờ được giới sử học ca ngợi là công lao của vua chúa. Không có lý gì Nguyễn Ánh được tính công. Nhân thể, vụ VNCH chọn bài hát của Lưu Hữu Phước, một ông cộng sản nòi, làm quốc ca thì tính công lao thế nào?

Đánh giá lịch sử phải dựa trên bằng chứng sử học. Nếu Nguyễn Ánh mở mang bờ cõi thì sử sách tây tàu đã ghi điều đó. Tuy nhiên, đến giờ đã hơn hai thế kỷ kể từ khi ông ta lên ngôi, vẫn chưa có ai đưa ra được bằng chứng nào ra hồn.

Nói vắn tắt, tôi đồng tình với phát biểu của nữ tướng Bùi Thị Xuân trước khi gia đình bà bị ông ta sát hại: “Nói về tài ba thì tiên đế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ. Còn nhà ngươi bị đánh phải trốn chui trốn nhủi, phải cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Pháp. Chỗ hơn kém rõ ràng như ao trời nước vũng.”

Tuy nhiên, việc người dân Huế có thiện cảm với ông ta là điều dễ hiểu. Triều đại nhà Nguyễn kéo dài hơn 140 năm, hậu duệ đông đúc, cho nên việc tuyên truyền “rửa mặt” cho ông ta được thực hiện rất kiên trì và quy mô, ảnh hưởng lớn đến tình cảm của người dân địa phương. Người Huế còn có lý do tự ái vùng miền để bênh ông ta, bởi chẳng ai muốn quê hương mình là nơi lập nghiệp của “một kẻ cõng rắn cắn gà nhà”. Người dân ở đâu không muốn tự hào quê mình là nơi "địa linh, nhân kiệt"?

Thế nên nếu số liệu điều tra cho thấy đa số dân Huế muốn đặt tên đường Gia Long thì cũng không có gì ngạc nhiên. Cũng không nên trách phát biểu của ông Phan Thanh Hải, giám đốc sở văn hoá, bởi ông là người sống lâu năm ở Huế.

 

NGUYỄN HUỆ KHÔNG PHÁ LĂNG MỘ CÁC CHÚA NGUYỄN?

Đoạn wiki dưới đây cung cấp nhiều bằng chứng khá thuyết phục về việc Nguyễn Huệ không phá lăng mộ các Chúa Nguyễn. Theo đó, chỉ có Đại Nam Thực Lục và Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, đều do sử gia Nhà Nguyễn biên soạn, ghi chép rằng Nguyễn Huệ phá lăng mộ 8 chúa Nguyễn. Các tài liệu của phương tây thời đó hay Hoàng Lê Nhất Thống Chí không hề ghi lại sự kiện quá lớn như vậy. Vậy có thể Nguyễn Ánh với bản chất hèn hạ đã vu khống cho Nguyễn Huệ. Sự kiện phá lăng mộ này cần được xác minh bởi nhiều nguồn sử liệu khác, trong đó sử liệu của tây khách quan hơn cả.

Hơn nữa, dưới góc độ luật hình sự, cho dù Nguyễn Huệ có phá lăng mộ các Chúa Nguyễn đi nữa thì đó là hành vi khá nhẹ, không thể so sánh với tội tàn sát man rợ vua quan nhà Cảnh Thịnh Đế. Nói chung Nguyễn Ánh là một nhân vật không thể chấp nhận được.

 

(TRÍCH ĐOẠN WIKIPEDIA)

Vào thời Nhà Nguyễn, các vua Nguyễn truy diệt tất cả những gì liên quan đến nhà Tây Sơn, bởi quân Tây Sơn đã đánh đổ các chúa Nguyễn. Vua Quang Trung bị gán cho là "giặc cướp", "thảo khấu" trong các bộ sử của nhà Nguyễn, những hành vi xấu xa cũng thường bị gán cho ông. Ví dụ, sách Đại Nam thực lục do nhà Nguyễn biên soạn quy tội Nguyễn Huệ đã ra lệnh đào mộ 8 chúa Nguyễn[134]:

“Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa.

Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên.

"Nguyễn Phúc Tộc thế phả" thì ghi là[135]:

“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người)”

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng việc Quang Trung cho phá lăng tẩm chúa Nguyễn là do sử quan thời Nguyễn cố ý gán ghép, thiếu bằng cứ xác đáng. Đúng là các lăng mộ chúa Nguyễn đã bị phá hủy vào thời kỳ đó, nhưng Phú Xuân vào giai đoạn 1781-1785 từng thuộc sự kiểm soát của quân chúa Trịnh, rồi sau đó lại chiến sự liên miên, có rất nhiều các nhóm thổ phỉ chuyên đào mộ để cướp của, nên chưa thể quy trách nhiệm cho quân Tây Sơn nếu chỉ dựa vào ghi chép của Đại Nam thực lục. Rất có thể các sử quan nhà Nguyễn đã dựa vào một việc có thực (lăng tẩm chúa Nguyễn bị phá) rồi cố ý gán trách nhiệm cho quân Tây Sơn, nhằm bào chữa cho việc Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn tàn khốc sau này, cũng như để hạ uy tín của nhà Tây Sơn trong nhân dân. Luận điểm này được căn cứ bởi 5 chi tiết:

Ngoài bộ sách Đại Nam thực lục và "Nguyễn Phúc Tộc thế phả" do chính nhà Nguyễn viết, không có bộ sử nào khác của Việt Nam thời đó cũng như không có giáo sỹ phương Tây đương thời nào ghi chép lại việc này, dù đây là 1 sự kiện đủ lớn để gây chấn động cả đất nước. Kể cả cuốn Hoàng Lê nhất thống chí của các học giả Ngô Gia văn phái đương thời (vốn có quan điểm chống Tây Sơn) cũng không ghi lại.

Ghi chép của Đại Nam thực lục lại không nói rõ việc đào mộ diễn ra vào ngày tháng năm nào, trong khi đây là một sự kiện rất quan trọng với nhà Nguyễn. Điều này cho thấy các sử quan nhà Nguyễn cũng không nắm được lăng các chúa Nguyễn bị phá khi nào, nên càng không có đủ cơ sở để quy tội cho quân Tây Sơn.

Chính ghi chép của Đại Nam thực lục cũng có nhiều điểm huyền bí, ngày nay xem xét lại một cách khoa học thì rõ ràng là người viết hư cấu. Sách này ghi là quân Tây Sơn đang đào huyệt thì "bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra", rồi thì "nhà Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ bỗng dưng phát hỏa". Các chi tiết này rõ ràng là tình tiết hư cấu thời phong kiến nhằm thể hiện rằng nhà Nguyễn có "thiên mệnh", "trời phù hộ nhà Nguyễn". Sách này cũng cho là "Huệ đánh trận hay thua" nên tức giận mà phá lăng chúa Nguyễn. Đây là luận điểm vô căn cứ, vì Nguyễn Huệ đánh trận luôn chiến thắng Nguyễn Ánh, chưa hề thua một trận nào.

Ghi chép của Đại Nam thực lục mâu thuẫn với "Nguyễn Phúc Tộc thế phả". Đại Nam thực lục ghi rằng "Nguyễn Ngọc Huyên cùng với các con ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi", nhưng "Nguyễn Phúc Tộc thế phả" lại ghi rằng Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá mới tình cờ vớt được hài cốt. Điều này cho thấy ít nhất 1 trong 2 cuốn sách là hư cấu (thậm chí có thể cả hai đều là hư cấu), các sử quan nhà Nguyễn không hề nắm được chi tiết vụ việc nên mới viết ra các thông tin mâu thuẫn nhau.

Quân Tây Sơn có kỷ luật nghiêm minh, khi đánh ra Bắc diệt chúa Trịnh, tiến vào thành Thăng Long cũng không hề cướp phá lăng mộ của các vua Lê–chúa Trịnh. Vậy thì cũng không có lý do để quân Tây Sơn phá lăng của các chúa Nguyễn. Nguyễn Huệ là một vị vua khôn ngoan, ông biết rõ nhiều người dân Đàng Trong vẫn nhớ về chúa Nguyễn, nên sẽ không dại dột phá lăng chúa Nguyễn để khiến người dân bất bình.

Tóm lại, việc quân Tây Sơn cho phá lăng tẩm chúa Nguyễn có nhiều khả năng là do sử quan thời Nguyễn hư cấu ra, nhằm bào chữa cho việc Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn tàn khốc sau này, cũng như để hạ uy tín của nhà Tây Sơn trong nhân dân.

Tưởng niệm Quang Trung và giá trị của chiến thắng ngoại xâm

 Hôm rồi, tôi thấy trên facebook có đoạn như thế này: “Đọc bài một số nhà nghiên cứu Huế phản đối Hội làng giỗ vua Quang Trung ở Huế này lại nhớ mấy ông anh Hán Nôm với lịch sử rỉ tai mình rằng cái lễ hội Gò Đống Đa mùng 5 Tết hàng năm ở Hà Nội là Newly Invented Tradition do các bí thư chi bộ sau khi tiếp quản Thủ Đô 1954 vận động bà con tổ chức. Lí do thì rất đơn giản trước năm 1954 và nhất là trước năm 1945 dưới thời nhà Nguyễn mà dám tổ chức lễ hội này thì có mà vua Nguyễn chém cả làng. Không rõ mấy ông bạn mình có dám đăng thành bài không? :))”.

Tại sao lại là Newly Invented Tradition? Triều đại Quang Trung và Cảnh Thịnh (con trai ông) kéo dài gần 14 năm. Trong khoảng thời gian đó, hẳn là đã có các lễ hội tưởng niệm chiến thắng Ngọc Hồi- Đống Đa, Rạch Gầm-Xoài Mút, v.v...Những lễ lạt đó chỉ chấm dứt khi Nhà Nguyễn lên ngôi.

Sau 150 năm, từ 1954, Quang Trung lại được cả hai miền tưởng nhớ. Không chỉ miền bắc có lễ hội Gò Đống Đa và nhiều hình thức tri ân ông mà miền nam cũng có nhiều đường phố, công trình mang tên Quang Trung, Nguyễn Huệ. Lễ hội thường niên cũng chỉ là một hình thức tưởng niệm chiến thắng của đội quân Quang Trung, giống như tri ân bằng cách đặt tên đường phố, công trình. Việc phục dựng lễ hội Gò Đống Đa sau 150 năm là hết sức cần thiết. Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa rất xứng đáng để có một lễ tưởng niệm hàng năm. Tại sao lại không dám đăng thành bài?

Như vậy, hậu thế thuộc nhiều thể chế chính trị (không dính đến triều Nguyễn) đều tri ân Quang Trung. Cho dù bị vùi dập suốt 150 năm, đối thủ chính trị vẫn không thể ngăn được một ngày vinh quang của quân đội ông lại toả sáng rực rỡ. Đây là ví dụ quan trọng mà nhà trường và báo chí cần sử dụng để giáo dục công chúng về giá trị vĩnh viễn của các chiến thắng ngoại bang của dân tộc thế kỷ 20.

Trong khi đó, Nguyễn Ánh không được các sử gia đời nay công nhận, bởi không có bằng chứng đủ thuyết phục về công lao của ông ta, đặc biệt là có thể bù đắp được tội “Cõng rắn cắn gà nhà”. Khái niệm “Cõng rắn cắn gà nhà” là khái niệm quốc tế chứ không phải của riêng VN. Đây là kết quả nghiên cứu của các sử gia VN và cả phương tây. Giới sử gia đời nay không thù ghét gì cá nhân ông ta, bởi họ đã tôn vinh cả đời trước và đời sau ông ta (Hà Nội có cả đường Nguyễn Hoàng, Duy Tân, Thành Thái, và Hàm Nghi). Chỉ có điều họ không tìm thấy bằng chứng đủ thuyết phục để xoá tội và ghi công cho ông ta.

Hiện tại, tuyên truyền chống phá chế độ của phương tây và Việt kiều chống cộng vẫn đang rất mạnh khiến chính quyền cảnh giác. Nhưng tôi tin rằng sẽ đến một ngày, những lãnh đạo VNCH như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu được đánh giá lại công bằng hơn. Họ có thể được ghi nhận những nỗ lực duy trì một thử nghiệm dân chủ là VNCH.


 

Trích đoạn hồi ký của Hillary Clinton về chiến tranh Việt Nam

Nhân chuyện Biden sang VN, tôi gửi một số trích đoạn của Hồi ký Hillary Clinton, trong đó bà kể về những mâu thuẫn trong xã hội Mỹ về chiến tranh VN. Bà cũng tiết lộ rằng John McCain là dạng con ông cháu cha, cả cha và ông nội đều là đô đốc hải quân. Khi McCain bị bắt giam ở VN, cha ông đang là Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, bao gồm cả VN. Có lẽ vì vậy McCain được sự ưu ái đặc biệt của giới chính trị gia Mỹ, bởi là tấm gương tiêu biểu về việc con cái của lãnh đạo cao cấp cũng nhập ngũ và bị cầm tù nhiều năm. Phó tổng thống Kamala Harris và các nghị sỹ Mỹ đến thăm VN đều đến hồ Trúc Bạch đặt hoa tưởng niệm McCain.

=======

(Dưới đây là các trích đoạn trong hồi ký. Một số chỗ không liên tục)

Khó mà giải thích cho thanh niên Mỹ ngày nay, đặc biệt là với một người lính tình nguyện về mức độ ám ảnh đối với thế hệ của tôi về chiến tranh Việt Nam. Bố mẹ tôi, sống qua Thế chiến thứ hai, đã kể cho chúng tôi những câu chuyện cảm động về tinh thần hy sinh của người Mỹ trong thời gian này và sự đồng tâm nhất trí của người dân Mỹ về việc cần thiết tham chiến của Hoa Kỳ sau vụ ném bom Trân Châu Cảng. Tuy nhiên trong cuộc chiến Việt Nam, đất nước lại bị chia rẽ, làm chúng tôi bối rối, mất phương hướng. Nhiều chàng trai trong chương trình huấn luyện sĩ quan dự bị ROTC rất trông mong được nhập ngũ khi họ tốt nghiệp và cũng không thiếu những thanh niên toan tính trốn quân dịch. Nữ sinh trường chúng tôi đã có những cuộc nói chuyện dài về nhưng điều mà chúng tôi có thể làm được nếu mình là nam giới. Chúng tôi biết rõ là mình không phải đối diện các lựa chọn tương tự. Đó là một nỗi dằn vặt đối với mọi người. Một bạn nam sinh viên ở Trường Đại học Princeton cuối cùng đã bỏ học giữa chừng và gia nhập Hải quân bởi vì anh ta nói với tôi là anh ta phát ốm với những tranh cãi và những điều không chắc chắn.

Cuộc tranh luận về Việt Nam đã thể hiện những thái độ khác nhau về cuộc chiến lẫn trách nhiệm công dân và tinh thần ái quốc. Có phải bạn tôn vinh tổ quốc bằng cách tham gia một cuộc chiến mà mình cho là phi nghĩa và đi ngược lại quyền lợi của Hoa Kỳ ? Liệu bạn có phải là người không yêu nước nếu bạn lợi dụng hoãn quân dịch hoặc trông chờ số phận may rủi để né tránh tham chiến ? Nhiều sinh viên mà tôi biết dù tranh luận và phản đối các giá trị đạo đức của cuộc chiến nhưng đều là người Mỹ yêu nước, cũng nồng nàn không kém các thanh niên dũng cảm khác đang phục vụ trong quân ngũ không mảy may hoài nghi hay những người nhập ngũ phục vụ trước rồi thắc mắc sau. Đối với nhiều nam nữ thanh niên có hiểu biết và suy nghĩ thì không hề có lời giải dễ dàng và đối với họ thì có nhiều cách để biểu lộ tinh thần ái quốc.

Một số nhà văn và chính tri gia đương thời cố gắng làm giảm nhẹ những đau đớn của những năm tháng này bằng cách miêu tả lối sống buông thả của những năm 60. Thật vậy, có một số người muốn viết lại lịch sử để xóa bỏ những di hại của chiến tranh và các biến động xã hội. Họ làm cho chúng ta tin rằng mâu thuẫn này không nghiêm trọng nhưng theo tôi nhớ thì hoàn toàn không phải vậy.

Vấn đề Việt Nam đã biến đổi Hoa Kỳ một cách sâu sắc. Đất nước vẫn ôm một nỗi trăn trở về lỗi lầm và ý kiến chống lại đối với những người đã tham chiến hoặc không tham chiến tại Việt Nam. Là một phụ nữ, tôi biết mình không bị động viên nhập ngũ nhưng vẫn trải qua hàng giờ đồng hồ day dứt, trăn trở với những tình cảm mâu thuẫn của mình.

Nếu xét lại thì năm 1968 là một năm bước ngoặt đối với đất nước và cả đối với bản thản tôi cùng với xu hướng chính trị của mình. Các sự kiện trong nước và quốc tế diễn biến rất nhanh và liên tục : cuộc tấn công Tết Mậu Thân, sự rút lui của Lyndon Johnson khỏi cuộc đua bầu cử Tổng thống, vụ ám sát Mục sư Martin Luther King Jr., vụ ám sát Robert Kennedy và sự leo thang liên tục của cuộc chiến tranh Việt Nam.

Đến lúc học đại học năm thứ ba, tôi đã biến từ một cô gái ủng hộ Goldwater sang ủng hộ phong trào phản chiến của Eugene McCarthy, một Thượng nghị sĩ Dân chủ của tiểu bang Minnesota - người đã tranh cử với Tổng thống Johnson trong cuộc bầu chọn ứng cử viên trong Đảng Dân chủ. Mặc dù tôi ngưỡng mộ Tổng thống Johnson với những thành tựu trong nước nhưng tôi nghĩ rằng việc ông kiên trì ủng hộ cho cuộc chiến tranh mà ông kế thừa là một sai lầm mang tính bi kịch. Cùng với một số bạn bè , tôi đã lái xe rời Wellesley đến Manchester, New Hampshire vào ngày thứ Sáu hay thứ Bảy để phát tờ bướm tại các khu đông người qua lại. Tôi có cơ hội gặp gỡ Thượng nghi si McCarthy khi ông dừng lại trước trụ sở của mình cám ơn những sinh viên tình nguyện đã tập hợp ủng hộ ông chống chiến tranh. Ông hầu như đã đánh bại Johnson trong cuộc bầu chọn ứng viên tại vùng New Hampshire và vào ngày l6 tháng 3 năm 68, Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy của New York bước vào cuộc đua tranh.

Tôi về nhà ở Park Ridge sau khi kết thúc Đại hội Đảng Cộng hòa mà không có kế hoạch nào cho những tuần lễ hè còn lại ngoài việc thăm gia đình, bạn bè và chuẩn bị cho năm học cuối. Vì gia đình tôi hàng năm có một chuyến đi nghỉ ở hồ Winola nên tôi tháp tùng theo mọi người. Tôi chắc chắn sẽ dành hàng tiếng đồng hồ đề tranh luận với bố tôi về Nixon và chiến tranh Việt Nam. Bố tôi rất thích Nixon và tin là Nixon sẽ trở thành một Tổng thống lỗi lạc. Về cuộc chiến Việt Nam, ông có thái độ nước đôi. Những nghi ngờ của ông về sự khôn ngoan của Hoa Kỳ trong việc dính líu vào cuộc chiến này thường bị chặn đứng bởi sự tức giận đối với lũ thanh niên tóc dài híp-pi phản chiến.

Vào ngày 30 tháng 4, Tổng thống Nixon tuyên bố là ông sẽ gửi quân Mỹ đến Campuchia, mở rộng chiến tranh Việt Nam. Các cuộc phản đối nhân ngày 1/5 trở thành một cuộc biểu tình lớn hơn, không chỉ để ủng hộ việc xét xử công bằng các thành viên tổ chức Báo Đen mà còn để phản đối các hành động của Nixon trong chiến tranh. Trong suốt giai đoạn diễn ra các cuộc phản đối của sinh viên, Hiệu trưởng Trường Yale, ông Kingman Brewster và Mục sư của trường là William Sloane Coffin đã áp dụng chính sách hòa giải giúp cho Yale tránh được các vấn đề xảy ra ở những nơi khác. Mục sư Coffin đã trở thành nhà lãnh đạo quốc gia của phong trào phản chiến thông qua các bài phê bình với lý lẽ sắc bén về sự dính líu của Hoa Kỳ. Hiệu trưởng Brewster đã tham gia đối thoại về các lo lắng của sinh viên và cảm thông với nỗi thống khổ của nhiều người. Thậm chí ông từng nói ông "không tin là những người da đen làm cách mạng sẽ được xét xử công bằng ở bất kỳ nơi nào trên đất Mỹ". Đối phó với viễn cảnh của những kẻ biểu tình quá khích, Brewster cho tạm nghỉ học và tuyên bố rằng các ký túc xá sẽ được mở để phục vụ các bữa ăn cho bất kỳ ai đến thăm. Các hành động, phát biểu của ông đã làm kích động nhiều sinh viên cũng như Tổng thống Nixon và Phó Tổng thống Spiro Agnew.

Thế rồi vào ngày 4 tháng 5, lính Vệ binh Quốc gia bắn vào những sinh viên phản đối tại Trường Đại học KentState ở bang Ohio. Bốn sinh viên bị giết chết. Bức hình chụp một phụ nữ trẻ quỳ bên xác của một sinh viên thể hiện tất cả những gì mà tôi và nhiều người khác đã sợ và căm ghét về cái đang xảy ra trên đất nước mình. Tôi nhớ mình đã lao ra khỏi cửa trường luật, nước mắt tuôn rơi và gặp Giáo sư Fritz Kessler, một người tị nạn thời Đức quốc xã Hitler. Ông hỏi tôi chuyện gì xảy ra và tôi nói rằng tôi không thể tin vào điều đang xảy ra, ông làm tôi lạnh gáy khi nói rằng đối với ông chuyện đó quá là quen thuộc.

Trung thành với nền giáo dục của mình, tôi chủ trương can dự, chứ không phải phá hoại hoặc "cách mạng". Vào ngày 7 tháng 5, tôi vẫn tiến hành nhiệm vụ đã lên lịch là phát biểu tại lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên đoàn Cử tri nữ ở Washington D.C., một lời mời xuất phát từ bài diễn văn tốt nghiệp của tôi. Tôi đeo trên tay một miếng băng tang màu đen để tưởng nhớ những sinh viên đã thiệt mạng. Một lần nữa, những xúc động của tôi lại trào dâng sục sôi khi tôi lên án rằng việc Hoa Kỳ mở rộng Chiến tranh Việt Nam sang Campuchia là bất hợp pháp và vi hiến. Tôi cố gắng lý giải hoàn cảnh mà các cuộc phản đối xảy ra và tác động của vụ bắn giết tại Trường Kent State đối với các sinh viên Trường Luật Yale, những người đã bỏ phiếu với sự cách biệt 239-12 để tham gia cùng với hơn 300 trường học khác tổ chức cuộc đình công bãi khóa toàn quốc nhằm phản đối "sự mở rộng chiến tranh mù quáng mà đáng lẽ không nên tiến hành". Tôi điều hành cuộc mít tinh nơi cuộc bỏ phiếu diễn ra và tôi biết các bạn sinh viên của mình đã rất nghiêm túc thực hiện luật pháp và trách nhiệm của mình với tư cách là những công dân. Các sinh viên luật, trước đây không tham gia cùng với các trường đại học khác trong các hoạt động phản đối đã tranh luận về các chủ đề một cách sâu sắc theo một phong cách của những luật gia. Họ không phải là những người "ăn bám, theo đuôi", cái từ mà Nixon gán ghép cho tất cả các sinh viên phản đối.

Vào tuần tiếp theo chúng tôi lái xe đến một tòa nhà không gây một ấn tượng nào và bước vào cửa dẫn đến các cầu thang đi xuống một loạt các căn phòng ngầm dưới đất. Khi Barbieri đứng lên nói trong căn phòng ăn rộng lớn, ông cần có sự quan tâm theo dõi của các ủy viên của chính quyền địa phương - hầu hết là nam giới - có mặt ở đó. Ông ấy bắt đầu nói về cuộc chiến tranh Việt Nam và nêu tên các chàng trai ở khu New Haven đang phục vụ trong quân ngũ và tên những người đã tử trận. Sau đó ông nói "Cuộc chiến này không đáng để chúng ta mất thêm bất kỳ một chàng trai nào nữa. Đó là lý do chúng ta nên ủng hộ George McGovern, người muốn đem các chàng trai của chúng ta về nhà". Lời tuyên bố không phải ngay lập tức chiếm được sự ủng hộ đa số nhưng đến gần tối, ông ta tập trung thuyết phục cho đến khi giành được sự nhất trí bỏ phiếu ủng hộ. Và ông ấy đã cam kết trước hết tại đại hội của tiểu bang và sau đó trong cuộc bầu cử: New Haven là một trong số vài nơi bỏ phiếu ủng hộ cho McGovern chống lại Nixon.

Quan hệ của Bill với quân đội đã vượt qua bước khởi đầu đầy khó khăn, vì thế, nhiều người đã lắng nghe bài diễn văn của anh về Ngày D. Cũng như tôi, anh chống lại chiến tranh Việt Nam, tin rằng đó là một sai lầm và Hoa Kỳ không thể thắng trong cuộc chiến này. Vào cuối thập niên 60, lúc đang học đại học, do được làm việc với Thượng nghị sĩ Fulbright trong Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện, khi đó anh đã hiểu những gì mà ngày nay chúng ta đều biết: Chính phủ Hoa Kỳ đã lừa dối công luận về sự sa lầy, về sức mạnh của những đồng minh người Việt, về sự kiện Vịnh Bắc bộ, về sự thành công của chiến lược quân sự, về con số thương vong, và những thông tin khác; vì thế mà đã kéo dài sự xung đột và làm hao binh tổn tướng nhiều hơn. Năm 1969, trong lá thư gửi đến chủ nhiệm chương trình Huấn luyện sĩ quan Dự bị (ROTC) của Đại học Arkansas, Bill đã cố giải thích mối lo ngại sâu sắc của anh về cuộc chiến. Quyết định rút khỏi chương trình và chấp hành lệnh quân dịch, anh đã dấn thân vào lòng cuộc đấu tranh như nhiều người trẻ tuổi cảm nhận về đất nước mà họ yêu mến và một cuộc chiến mà họ không thể ủng hộ.

Lần đầu gặp Bill, chúng tôi đã thảo luận không dứt về chiến tranh Việt Nam, về lệnh nhập ngũ và những nghĩa vụ mâu thuẫn mà chúng tôi cảm nhận được, giống như bao thanh niên Mỹ yêu đất nước của mình nhưng phản đối cuộc chiến đặc biệt đó. Chúng tôi hiểu những nỗi thống khố đương thời - mỗi chúng tôi đều có bạn đầu quân, bị gọi nhập ngũ, chống đối hoặc trở thành những người từ chối nhập ngũ vì lương tâm cho thế là trái đạo lý. Bốn bạn cùng lớp của Bill ở trường trung học tại Hot Springs đã tử trận tại Việt Nam. Tôi biết Bill tôn trọng nghĩa vụ quân sự, anh sẽ sung sướng phục vụ nếu như được gọi gia nhập quân đội trong Thế chiến thứ hai - cuộc chiến tranh có mục đích hết sức rõ ràng. Còn chiến tranh Việt Nam đã thử thách trí tuệ và lương tâm của nhiều người thuộc thế hệ chúng tôi, vì nó dường như mâu thuẫn với những giá trị và lợi ích quốc gia của Mỹ, chứ không phải là sự nghiệp của họ. Với tư cách là vị Tổng thống đầu tiên của lớp trưởng thành trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Bill mang theo những mặc cảm không xóa bỏ được của đất nước chúng tôi về cuộc chiến đó bước vào Nhà Trắng. Anh tin rằng đây là lúc để hòa giải những dị biệt của người Mỹ chúng ta và bắt đầu một chương mới: hợp tác với kẻ cựu thù.

Năm 1994, với sự ủng hộ của những cựu binh từng tham chiến ở Việt Nam trong Quốc hội, Bill đã xóa bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm sau. Chính phủ Việt Nam liên tục chứng tỏ sự nỗ lực chân thành trong việc giúp tìm kiếm quân nhân Mỹ bị mất tích trong chiến tranh hoặc bị bắt làm tù binh. Vào năm 2000, Bill trở thành vị Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Việt Nam kể từ khi quân đội Mỹ rút khỏi đây vào năm 1975. Những hoạt động ngoại giao dung cảm của anh đã tỏ rõ sự kính trọng đối với hơn 58.000 quân Mỹ đã hy sinh mạng sống của họ trong rừng già Đông Nam Á, giúp nước Mỹ chữa lành vết thương xưa và tìm ra những điểm chung giữa chúng ta và nhân dân Việt Nam.

Là ứng viên của Đảng Dân chủ bị ông George W. Bush đánh bại trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2004, ông Kerry vẫn là ứng viên tiềm năng trong cuộc tranh tài năm 2008 Đã từng là sĩ quan của hải quân Mỹ phục vụ 3 năm 8 tháng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, sau 3 lần bị thương, ông trở về Mỹ năm 1970 và tham gia phong trào phản đối chiến tranh. Một ngày sau khi ra điều trần trước quốc hội Mỹ tháng 4 năm 1971, ông cùng khoảng 800 cựu chiến binh khác đã quăng hết những huy chương quân đội mà họ đã được trao tặng trước Tòa nhà Quốc hội Mỹ để phản đối cuộc chiến ở Việt Nam.

Cả cha và ông nội của John McCain đều là đô đốc trong lực lượng Hải quân Hoa Kỳ. Cha ông, Đô đốc John S. McCain, Jr., là Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương kể cả lực lượng Mỹ ở Việt Nam trong thời gian John McCain bị bắt làm tù binh ở Việt Nam. Cũng như cha và ông, sau khi học xong trung học, John McCain vào Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Tốt nghiệp năm 1958 (và giống cả thứ hạng tốt nghiệp thấp như ông và cha), McCain đứng hạng thứ 895 trong tổng số 900 sinh viên. Sau đó, ông tiếp tục được huấn luyện để trở thành phi công của hải quân. Cuối tháng 10 năm 1967, chiếc A-4 Skyhawk do ông lái đi oanh kích miền Bắc Việt Nam đã bị bắn hạ xuống hồ Trúc Bạch. Ông bị bắt làm tù binh và được trả tự do năm 1973. Năm 1981 ông xuất ngũ. Năm tiếp theo, ông đắc cử vào Hạ viện. Trong cuộc bầu cử vào Thượng viện cuối năm 1986, John McCain được bầu chọn thay cho Thượng nghị sĩ Barry Goldwater nghỉ hưu. Thượng nghị sĩ John McCain hiện là một trong số ba cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh Việt Nam đang phục vụ tại Thượng viện Hoa Kỳ. Hai người kia là Thượng nghị sĩ John Kerry bang Massachusetts và Thượng nghị sĩ Chuck Hagel bang Nebraska.

PS: Bài hát "Give peace a change" được John Lennon sáng tác giữa thời kỳ phong trào phản chiến VN đang ở cao trào sục sôi. Ngay lập tức, bài hát đã trở thành "thánh ca" của phong trào, đặc biệt là trong cuộc biểu tình ngày 15/11/1969 với nửa triệu người Mỹ tham gia ở Washington DC. Trong clip này cũng có nhiều hình ảnh sinh viên và thanh niên Mỹ đi biểu tình ở khắp nơi. Có lẽ chẳng có cuộc chiến nào trong thế kỷ 20 khiến người Mỹ phản đối dữ dội đến thế. Phong trào phản chiến ở ngay trên đất Mỹ là vũ khí quan trọng nhất khiến Nixon phải ký hiệp định Paris.

 

Lo lắng về thế hệ được phương tây đào tạo?

Một số người lo lắng về chuyện WB duyệt đội ngũ làm sách giáo khoa VN. Tôi nghĩ nỗi lo đấy là không có cơ sở. Bởi vì họ duyệt nhân sự làm sách thôi. Có lẽ yêu cầu đó để chuẩn hoá phẩm chất của nhóm làm sách theo các tiêu chí của Liên Hợp Quốc. Trước nay đã có nhiều thứ chuẩn hoá như vậy rồi, chẳng hạn như làm Bộ luật về Lao động và nhiều luật khác. Nhưng chính quyền vẫn là người quyết định nội dung cuối cùng. Và quan trọng nhất là thực thi. Kể cả có luật nhưng không thực thi thì làm gì WB làm gì được.

Không có cơ sở nào để tin rằng lịch sử VN sẽ bị viết lại, cuộc chiến Nam-Bắc lại trở thành nội chiến. Lo lắng về việc những người đào tạo ở phương tây thì lại càng thừa. VN từ 1990 đến nay đã đào tạo hàng trăm nghìn người ở phương tây. Cũng có một bộ phận rất nhỏ trong số đó trở thành bất mãn chế độ. Nhưng tôi nhận thấy đội cuồng tây hung hãn nhất chính là những người chưa bao giờ đi học ở phương tây. Họ có nhiều hoang tưởng rằng xã hội phương tây như là nơi tự do hoang dã, vô thiên, vô pháp.

Đa số những người được đào tạo ở phương tây đều hiểu văn minh phương tây. Họ có thể ủng hộ dân chủ hoá nhưng không điên cuồng vô lối như cái đám người kia. Chưa kể họ cũng không thích những tuyên truyền chống chế độ đi ngược lại với các tiêu chuẩn văn minh.

PS: Cũng cần nhấn mạnh, đào tạo ở đây nghĩa là được đào tạo có bằng cấp như là đại học, cao học, tiến sỹ ở phương tây. Học hành bài bản thì mới có đủ kiến thức để tư duy đa chiều. 

Tướng MacArthur là vĩ nhân quan trọng đối với Nhật Bản?

Tác giả Sakayai Taichi từng viết cuốn sách có tên là “12 người làm nên nước Nhật”. Trong số đó có một người nước ngoài duy nhất là tướng MacArthur của Mỹ. Cuốn sách này đã khiến cho rất nhiều người hiểu nhầm MacArthur là một vỹ nhân có công lao to lớn đối với Nhật Bản. Trước tiên cần đọc lại lời giới thiệu cuốn sách của bản tiếng Việt: “Trong số 12 người nói đến ở đây, không ai là vị vua khai thiên lập địa, cũng không ai là vị tướng tài đánh dẹp ngoại xâm. Mà họ là 12 người đã để lại ảnh hưởng sâu đậm đối với nước Nhật và người Nhật ngày nay. Họ là những người đã đưa ra quan niệm tôn giáo, tiêu chuẩn luân lý, phong cách xử thế, tức là những giá trị tinh thần của người Nhật, tới những cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội còn tồn tại, hoặc vẫn còn ảnh hưởng lớn tới ngày nay.” Nhưng ngay cả quan điểm đánh giá như vậy có đúng không?

Ở Mỹ, MacArthur là một nhân vật có ảnh hưởng lớn. Nhiều tượng đài, công trình, đường phố mang tên ông ta. Không có gì ngạc nhiên Mỹ ra sức kể công những người Mỹ đối với các nước trên thế giới. Nhưng điều đó có đúng không. Quan trọng là người Nhật nghĩ gì chứ không phải người Mỹ nghĩ gì. Điều này cũng giống như ở Mỹ, John McCain là anh hùng dân tộc. Phó tổng thống, các nghị sỹ Mỹ sang thăm VN đều phải đến đặt hoa tưởng niệm McCain ở hồ Trúc Bạch. Nhưng đối với người Việt, ông ta chỉ là một giặc lái bị bắt sống, thậm chí còn là biểu tượng của không quân VN chiến thắng Hoa Kỳ.

Muốn biết người Nhật nghĩ gì về MacArthur thì phải xem giới sử học Nhật Bản nói gì, chính quyền Nhật đánh giá như thế nào, và nhân dân Nhật nghĩ gì.

+ Giới sử học phải có những lời ngợi ca chính thức. Ví dụ phải có những cuốn sách do giới sử học viết ca ngợi ông ta, chứ không phải chỉ là một vài lời khen ngợi vụn vặt, rời rạc, soi kính lúp tìm kiếm trong nhiều ngày mới thấy.

+ Nhật Bản là đồng minh của Mỹ từ thế chiến II đến nay. Nếu quả thật MacArthur có công lao to lớn như vậy thì các chính phủ Nhật phải thể hiện sự tri ân đối với ông ta bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, không có một con đường, một công trình nào ở Nhật mang tên MacArthur cả. MacArthur nhận được huân chương quan trọng nhất của Nhật Bản dành cho một chính trị gia: Huân chương Đại Thập tự Hạng nhất. Nhưng rất nhiều người khác, đặc biệt là 4 chính trị gia của VN cũng được Nhật Bản trao tặng huân chương này. Đó là Phan Văn Khải, Vũ Khoan, Phạm Gia Khiêm, và Võ Hồng Phúc.

+ Năm 2006, một đài truyền hình của Nhật Bản Nippon Television tiến hành khảo sát quan điểm của người Nhật về “100 nhân vật lịch sử vĩ đại” mà họ yêu thích nhất. Danh sách 100 người này không giới hạn phải là người Nhật Bản. Kết quả cho thấy 2/3 trong số người trong danh sách là người Nhật, 1/3 là người nước ngoài. Có cả những cái tên như John Kennedy, Conan Doyler. Nhưng không hề có tên MacArthur (Xem wiki Top 100 Historical Persons in Japan).

Có người Việt viết rằng: "Tiếp đó MacArthur yêu cầu Nhật viết hiến pháp. Cứ viết là ông xé vì không hài lòng. Cuối cùng ông tự lập tổ viết. Hiến pháp Nhật đọc thoáng qua như Hiến pháp Mỹ. Nhưng Văn Minh hơn.". Hiến pháp là thứ các quốc gia liên tục sửa đổi. Một quốc gia như Nhật Bản, có truyền thống canh tân thì đương nhiên ủng hộ sửa đổi hiến pháp thường xuyên. Đấy là công việc của các luật gia chứ một tướng quân sự thì biết cái mẹ gì mà nói là công lao của ông ta. Chỉ có một kỳ sửa đổi hiến pháp rơi đúng vào thời kỳ ông ta quản lý. Nhưng Nhật Bản có nhiều kỳ thay đổi hiến pháp chứ đâu phải chỉ riêng kỳ đó. VN từ 1945 đến nay cũng sửa đổi hiến pháp đến 4, 5 lần, mặc dù không có ông MacArthur nào cả.

Thế nên việc xếp MacArthur trong nhóm “12 người làm nên nước Nhật” chỉ là quan điểm cá nhân của ông Taichi và sự tuyên truyền của Mỹ. (Tôi tạm thời kết luận Taichi là một nhân vật Me Mỹ, trước khi có thêm nhiều bằng chứng khác). Ở VN, số lượng me mỹ khá đông, Mỹ nói cái gì cũng tin, cho nên không có gì ngạc nhiên, huyền thoại về công lao của MacArthur được lan truyền rất nhanh. Hành tung của Taichi cũng rất khó tìm. Có một nguồn tin duy nhất nói ông này từng là Bộ trưởng Nhật trong khoảng hơn 1 năm, nhưng các nguồn tin khác thì nói là ông ta chỉ là một chuyên viên của Bộ Kinh tế Nhật.

Người Việt sùng bái phương tây rất đông. Giờ bảo đánh giá công lao thì cũng khối kẻ sẵn lòng coi tổng thống Eisenhower, toàn quyền Doumer, hay McCain là những vĩ nhân có công “khai hoá văn minh”, “bảo vệ nền dân chủ” cho người Việt. Hoặc lâu nay có vô số kẻ ca tụng Nguyễn Ánh, mặc dù giới sử học nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu của cả tây lẫn tầu đều không thấy có bằng chứng gì có thể bù đắp tội “Cõng rắn cắn gà nhà” của ông ta. Không phải giới sử học thù hằn gì Nguyễn Ánh. Trên thực tế, ở Hà Nội có cả đường Nguyễn Hoàng, Duy Tân, Thành Thái, Hàm Nghi, có nghĩa là họ sẵn sàng ghi nhận công lao của cả đời trước, đời sau Nguyễn Ánh. Khái niệm “cõng rắn cắn gà nhà” là khái niệm của giới sử học quốc tế chứ chẳng riêng gì VN.

 

“GIÀU CHƯA CHẮC ĐÃ SANG, NHƯNG NGHÈO CHẮC CHẮN LÀ HÈN”

Người ta có câu: “Giàu chưa chắc đã sang nhưng nghèo chắc chắn là hèn”. Không chỉ nghèo tiền bạc dẫn đến hèn, mà nghèo tri thức cũng dẫn đến hèn. Trong trường hợp này là nghèo tri thức về kinh tế. Một số người còn tuyên truyền rằng chính vì VN không chịu luồn cúi, quỳ gối thần phục Pháp, Mỹ cho nên mới nghèo túng. Họ cho rằng dân Nhật vui vẻ chấp nhận Mỹ dạy cho một bài học bằng 2 quả bom nguyên tử, ngoan ngoãn chịu sự lãnh đạo của tướng MacArthur cho nên mới giàu có được như ngày nay.

Trên thực tế, Nhật Bản đã có lịch sử phát triển mạnh mẽ hàng trăm năm, trước thế chiến II. Hiện nay ở Nhật có 5000 công ty có tuổi đời trên 200 năm. Số doanh nghiệp có tuổi đời trên 1000 năm cũng là vài trăm. Mô hình Zaibatsu chính là các tập đoàn kinh doanh của Nhật Bản đã có từ thời Thiên Hoàng Minh trị. Đó là những mô hình sau này các Chaebol của Hàn Quốc học tập và thành công. Về khoa học, công nghệ, Thiên Hoàng Minh Trị đã học tập phương tây và áp dụng ở Nhật từ cách đây 150 năm. Trước thế chiến II Nhật Bản đã trở thành một đế quốc hùng mạnh. Thế nên Nhật Hoàng mới dám đem quân tấn công Trân Châu Cảng của Mỹ. Nếu yếu kém thì làm sao họ dám chủ động tấn công Mỹ.

Chính vì tiềm lực kinh tế, khoa học, quân sự hùng mạnh có từ hàng trăm năm trước cho nên sau thế chiến II họ hồi phục vị thế rất nhanh. Những học thuyết, triết lý quản trị nổi tiếng của Nhật Bản như Thuyết Z, triết lý Kaisen, 5S đã trở thành kinh điển trong các sách giáo khoa về quản trị bậc đại học được giảng dạy trên khắp thế giới, kể cả ở Mỹ. Đến nay Nhật Bản đã có mấy chục giải Nobel các loại. Thế mà bảo nhờ công lao của một tướng Mỹ. Me tây thì cũng vừa phải thôi, me tây quá mức, thì không ai chịu đựng được.

Lịch sử là cuộc chạy đua tiếp sức. Thế hệ trí thức Việt từ thế kỷ 17-19 đã thua rất xa người Nhật. Thế hệ trí thức thế kỷ 20, 21 muốn bắt kịp Nhật Bản là rất khó.

"CHA GIÀ DÂN TỘC" VÀ VĂN HOÁ TÔN THỜ LÃNH TỤ

Lề trái thường tuyên truyền rằng chỉ các nước độc tài, cộng sản mới sùng bái lãnh tụ. Thật ra văn hoá tôn sùng lãnh tụ có ở hầu hết các quốc gia, chỉ khác nhau ở mức độ và cách thể hiện. Nhiều chính trị gia trên thế giới đã truyền cảm hứng, tạo ra những bước ngoặt lớn có tính quyết định đối với vận mệnh của cả một dân tộc, chẳng hạn NHƯ các vị khai quốc công thần hoặc những vị có công giành độc lập cho dân tộc. Họ thường được gọi là “Người cha của dân tộc”. Dưới đây là một số ví dụ:

+ Mahatma Gandhi (Ấn Độ): được người Ấn ca tụng là “Người cha của dân tộc”, “Linh hồn vĩ đại”, “Vỹ nhân”, “Đại nhân”.

+ Aung San (Miến Điện): Aung San là cha của bà Aung San Suu Kyi. Mặc dù bị sát hại khi mới 32 tuổi, ông vẫn được nhân dân Miến Điện gọi là “Người cha của dân tộc”, “Người cha của Quân đội Miến Điện” bởi đã có công lớn thương lượng với người Anh để giành độc lập cho Miến Điện và là người khai sinh ra quân đội Miến Điện.

+ Mustafa Kemal Atatürk (Thổ nhĩ kỳ): Atatürk có nghĩa là “Cha già dân tộc” theo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là danh hiệu do Hội đồng Quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ trao tặng vì những cống hiến to lớn của ông đối với đất nước.

+ Nelson Mandela (Nam Phi): Được gọi là “Cha già dân tộc” hay “Madiba”, nghĩa là “Cha già” theo tiếng thổ ngữ của người Xosha ở Nam phi.

+ Tôn Trung Sơn (Trung Quốc): được tôn là “Quốc Phụ”, “Người Tiên phong của Cách mạng” ở Trung Hoa Dân Quốc.

+ Mao Trạch Đông (Trung Quốc): được gọi là “Lãnh tụ vĩ đại”, “Người thầy vĩ đại”, “Người cầm lái vĩ đại”.

 

 

VIỆC TÔN THỜ GEORGE WASHINGTON Ở MỸ

Ở Mỹ, thuật ngữ “Những người cha sáng lập” (Founding fathers) thường được sử dụng cho bốn tổng thống Mỹ đầu tiên, những người đã có công đóng góp trong thời kỳ đầu lập quốc: George Washington, John Adams, Thomas Jefferson, and James Madison. Trong đó Washington được coi là Người cha vĩ đại nhất. Ông được phong là “Đại thống tướng” theo nghị quyết của Quốc hội năm 1976, nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày lập quốc.

Việc tôn vinh Washington vô cùng phong phú. Ngoài thủ đô mang tên Washington D.C., tên ông còn được đặt cho tiểu bang Washington, một tiểu bang có diện tích bằng 54% diện tích của toàn bộ Việt Nam. Ngày sinh của ông là ngày nghỉ lễ của quốc gia, thường được gọi “Ngày Washington” hoặc “Ngày tổng thống” để kỷ niệm chung tất cả các tổng thống. Tên của ông xuất hiện ở khắp nơi trên toàn quốc: tượng đài, tượng, nhà tưởng niệm, đường phố, sân bay, nhà ga, bến tàu, quảng trường, trung tâm mua sắm, công trình văn hoá, tổ hợp khoa học, tiền tệ, tem thư v.v…Có đến vài chục ngàn địa điểm, danh vị mang tên ông. Số lượng văn hoá phẩm chuyên về Washington cũng lên đến hàng nghìn.

Tuy nhiên, Washington cũng là nhân vật gây nhiều tranh cãi, bởi ông là một chủ nô và không phản đối chế độ nô lệ. Lúc ông qua đời nhà ông vẫn có hơn 150 nô lệ. Thời ông làm tổng thống (và kéo dài đến thập kỷ 1970s), các quyền được nêu trong bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hoa Kỳ không bao gồm quyền cho Phụ nữ, Nô lệ, và Người da màu. Hai bang gần thủ đô là Maryland và Virginia có đến 30-40% dân số là nô lệ. Ông cũng phải chịu trách nhiệm về việc tàn sát, bức hại người da màu trong nhiệm kỳ tổng thống của mình. Chính vì vậy, trong cuộc nổi loạn sau cái chết của George Floyd năm 2020, tượng của Washington và Jefferson, hai tổng thống đồng thời là chủ nô đã bị giật đổ ở Portland.

Nhưng những điều đó không hề cản trở tên tuổi và hình ảnh của ông vẫn được tôn sùng ở khắp nơi trên đất Mỹ, dù đã hơn 200 năm kể từ ngày ông qua đời.

 

VIỆC TÔN THỜ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH Ở VN

Những ví dụ trên cho thấy văn hoá sùng bái lãnh tụ là thứ rất phổ biến, kể cả ở các nước dân chủ phát triển. Hồ Chí Minh không chỉ tạo nguồn cảm hứng lớn đối cho dân tộc VN mà cả nhiều dân tộc khác, cho dù ý thức hệ khác biệt. Hơn 20 nước trên thế giới có tượng đài và bảo tàng kỷ niệm ông Hồ, bao gồm cả Pháp, Hungary, Ấn Độ, Arhentina, Mexico, Singapore.

Việc sùng bái Washington ở Mỹ chẳng hạn, đôi chỗ còn hơn cả Hồ Chí Minh ở VN. Ví dụ tên Washington được đặt cho thủ đô và cả một tiểu bang. Ngày sinh của ông là ngày nghỉ lễ quốc gia. Washington cũng chỉ là người trần mắt thịt, có nhiều sai lầm, thiển cận. Rất nhiều thế hệ người da đen, da đỏ oán ghét ông. Thế nhưng việc tôn thờ ông không hề suy giảm, dù quan niệm về nhân quyền của nước Mỹ đã thay đổi quá nhiều so với thời ông còn sống. Thế nên, sẽ chẳng có gì ngăn được những người như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp sẽ đi vào lịch sử như những lãnh tụ chính trị và quân sự lỗi lạc nhất của dân tộc.

Nói như vậy không có nghĩa là tôi đồng ý với việc lạm dụng quá mức hình ảnh Hồ Chí Minh như hiện nay. Đành rằng điều đó là một biện pháp để giữ vững niềm tin của người dân đối với đảng, và ổn định chế độ. Nhưng tôi e rằng nó không hiệu quả như kỳ vọng và thời gian đã quá lâu, cần phải dần thay thế bằng những cách khác. Đảng nên tiến hành trưng cầu ý kiến, trước tiên trong cộng đồng các đảng viên, để tìm kiếm những giải pháp thay thế.

 

LỀ TRÁI ĐỊNH CHIẾM ĐOẠT THUẬT NGỮ “PHẢN BIỆN XÃ HỘI” CỦA NHÂN DÂN???

(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Theo từ điển của cả tây lẫn ta, phản biện xã hội (PBXH) là góp ý, phê bình, chỉ trích chính quyền, các tổ chức, các tầng lớp xã hội, và cá nhân với mong muốn làm cho xã hội tốt lên. Không ở đâu trên thế giới này, định nghĩa “PBXH” lại bao gồm thái độ chính trị của người phản biện.

Nếu hiểu như vậy thì sẽ thấy số người Việt tham gia PBXH cũng không quá ít. Người Việt phản biện ở khắp nơi: trong các cuộc họp ở trường học, công sở, tổ dân phố, gặp gỡ các cấp chính quyền, qua e-mail, thư tay, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các tạp chí, diễn đàn khoa học, hội thảo chính sách...v.v. Hầu hết những người có danh tính rõ ràng bị chụp mũ “bò đỏ” đều tham gia PBXH. Chỉ có điều họ không tỏ ra bất mãn chế độ.

Thế nhưng từ nhiều năm nay, lề trái thường xuyên nhận vơ cụm từ “PBXH” là của họ. Đối với họ, chỉ những người phản biện do chán ghét chế độ mới được coi là PBXH. Không những thế, họ còn lớn tiếng la lối: “Dạo này có quá ít người phản biện xã hội”, “Chẳng lẽ một xã hội không cần những người phản biện?” Có thể gọi đám người phản biện vì chán ghét chế độ là nhóm Công khai Bất mãn Chế độ (CKBMCĐ). CKBMCĐ chỉ là một tập con rất nhỏ của cộng đồng những người PBXH.

Việc lề trái cố tình nhập nhèm PBXH với CKBMCĐ là có chủ đích. Bởi nếu ai đó than thở rằng: “Bây giờ có quá ít người phản biện xã hội!” thì xã hội ấy quả thật đáng buồn. Nhưng nếu họ than thở rằng “Bây giờ có quá ít người công khai bất mãn chế độ!” thì những người tư duy tốt sẽ buồn cười, thắc mắc tại sao lại cần phải bất mãn? Việc bất mãn đó có chính đáng hay không?

Thật ra, hầu hết những người bất mãn chế độ ở VN là do: (i) Bản thân hoặc gia đình có thù oán, oan ức với chính quyền; (ii) Không hiểu sự phức tạp của chính trị, bị giới chống cộng kích động; (iv) Năng lực tư duy đạo đức yếu kém, không hiểu thế nào là điều tốt cho xã hội; hoặc (iv) Có những uẩn ức cá nhân: nghèo túng, cuộc sống bấp bênh, thiếu cơ hội phát triển, gia đình không hạnh phúc, không thành đạt, gặp áp bức trong công việc, không được xã hội đánh giá cao như kỳ vọng v.v.

Có học giả nhận xét rằng rất nhiều người Việt lười biếng, rỗi việc cho nên suốt ngày lên mạng chém gió, chửi bới và gọi đó là PBXH. Trong khi đó ở các nước phát triển, người dân làm việc rất vất vả, không có thời gian để thở. Nếu phản biện họ chủ yếu nói về các vấn đề liên quan đến chuyên môn của họ. Quả thật, năng suất lao động ở VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á trong khi số lượng Dân Chửi, Chuyên Gia Vạn Vật lại hơi nhiều. Nhiều người không có chuyên môn, chỉ chửi bới cho sướng mồm, cho nên dù được đám đông bất mãn tung hô vẫn cảm thấy “trống rỗng” bởi ý kiến của họ không được giới chuyên gia lẫn chính quyền quan tâm vì thiếu kiến thức và cực đoan. Họ cho rằng góp ý, phê bình chính quyền là vô ích, nên quay sang kích động thanh niên mới lớn và quần chúng dân trí thấp chống chế độ. Trong khi đó những người có chuyên môn thì có vô số việc để làm. Họ phản biện qua các kênh khác chứ hiếm khi lên mạng.

 

TRÍ THỨC CÓ NHẤT THIẾT PHẢI PHẢN BIỆN XÃ HỘI?

Một số người còn nâng cao quan điểm: “Trí thức phải quan tâm đến xã hội. Không PBXH thì không xứng đáng được mang danh trí thức”. Họ không ngượng mồm tâng bốc những kẻ vô văn hoá, phản biện ngô nghê là trí thức hơn những người lịch lãm, âm thầm đóng góp cho xã hội. Phản hồi điều này, GS Ngô Bảo Châu từng nói: “Giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội” và “Phản biện xã hội cũng cần có kiến thức”. Phát biểu của ông Châu rất chính xác. Và đó cũng là quan điểm của các nhà giáo chân chính, những người sẽ đào tạo các thế hệ trí thức tương lai cho xã hội.

Thứ cần khuyến khích là quan tâm đến xã hội chứ không phải PBXH. Tuy nhiên:

1. Quan tâm đến xã hội không phải là bắt buộc với tất cả mọi người. Trong bối cảnh năng suất lao động của VN còn rất thấp, dẫn đến nguy cơ tụt hậu lâu dài, những công nhân, kỹ sư, bác sỹ, nhà báo, nhà khoa học, doanh nhân.v.v…tập trung sức lực làm tốt công việc chuyên môn của họ là điều rất đáng hoan nghênh. Nếu họ quá ít thời gian dành cho cộng đồng thì hoàn toàn có thể thông cảm được.

2. Quan tâm đến xã hội không nhất thiết phải PBXH: Có nhiều cách để quan tâm đến xã hội. Chẳng hạn như làm từ thiện, hoạt động tình nguyện, giúp đỡ cư dân nơi mình sống, xây dựng cộng đồng dân cư tốt đẹp, giúp đỡ các đồng nghiệp trong ngành của mình, đóng góp xây dựng môi trường công sở, môi trường nghề nghiệp văn minh. “Giữa đường gặp cảnh bất bằng mà tha”, giúp đỡ người gặp hoạn nạn, ngăn chặn kẻ xấu ở nơi xa lạ cũng là quan tâm đến cộng đồng. Đăng tin hướng dẫn, giúp đỡ người khác cũng là một cách quan tâm. Nói tóm lại, có rất nhiều cách để quan tâm đến xã hội nhưng không nhất thiết phải PBXH.

3. Không thể so bì mức độ quan tâm đến xã hội: Nhiều người quan tâm, giúp đỡ cộng đồng một cách lặng lẽ, hoặc chỉ những người gần gũi họ mới biết. Chẳng hạn âm thầm làm từ thiện, đóng góp để xây dựng cộng đồng dân cư sạch đẹp, văn minh, hỗ trợ xây dựng môi trường công sở, môi trường nghề nghiệp chuyên nghiệp, tôn trọng lẫn nhau. Trong khi đó, nhiều kẻ suốt ngày lên mạng chửi bới lèm bèm rồi tự ca ngợi những người giống mình, chê bai người khác không quan tâm đến xã hội theo cách như họ.

4. PBXH không nhất thiết phải trên mạng: Mạng xã hội chỉ là một kênh để phản biện. Như đã nêu từ đầu, có rất nhiều kênh khác để PBXH. Thật ra, đa số những người có chuyên môn thường phản biện chính quyền ở các kênh khác hiệu quả và trực tiếp hơn, thay vì mạng xã hội. Trước năm 2000, Internet chưa phát triển, không lẽ loài người không PBXH? Có lẽ chỉ có đám hải ngoại chống cộng suốt ngày ngồi chầu hẫu trên mạng quan tâm đến phản biện online, bởi họ không thể biết trong thế giới offline người Việt nói gì, viết gì.

5. Không nhất thiết phải PBXH về các vấn đề vĩ mô, các vấn đề chính trị, xã hội ngoài tầm hiểu biết: Nhiều người năng lực tư duy yếu kém, không phân biệt được đâu là thông tin có bằng chứng, đâu là tin giả, hoặc thích phán xét những vấn đề mà họ không có đủ kiến thức. Những dạng phản biện như vậy tuy cũng có tác dụng tự sướng, tự giải trí, giải toả uẩn ức cá nhân, nhưng nói chung không phải là thứ cần khuyến khích.

 

PHẢN BIỆN XÃ HỘI PHẢI CÓ VĂN HOÁ.

Có vô số người không biết gì mấy về vấn đề phản biện nhưng thái độ rất hung hăng. Nhiều người lập luận ngô nghê nhưng ra vẻ bất mãn để được đồng bọn tung hô là thẳng thắn, can đảm, để kiếm like, share, hoặc mưu cầu danh lợi.

Nhiều người lợi dụng PBXH để phô bày cái tôi to tướng, tự ca ngợi bản thân và đồng bọn “can đảm”, thậm chí thoải mái đố kị, tấn công cá nhân những người thành đạt hoặc có quan điểm khác mình. Việc lèm bèm chê bai hết cái nọ, đến cái kia, ngày này qua tháng khác chỉ dẫn đến thoái hoá nhân cách.

Không phải phi lý tất cả các sách dạy làm người trên thế giới đều không khuyến khích chê bai, lèm bèm suốt ngày. Muốn nói nhiều thì phải hiểu chuyên môn, đầu tư công sức trong phạm vi chuyên môn đó và chỉ phản biện trong phạm vi mình hiểu biết.

Thật ra, hầu hết những người được lề trái thường xuyên ca tụng là thẳng thắn, can đảm thường không hiểu gì mấy về vấn đề họ phản biện. Ngoài tự giải trí, tự sướng, giải toả uẩn ức, ý kiến của họ không có giá trị gì mấy để cải tạo xã hội. Nhóm người đấu tranh dân chủ thì còn khiếp hơn nữa, bởi hầu hết những người này chỉ đáng được coi là lính đánh thuê, chửi thuê cho Bolsa. Những phát biểu của họ khiến chính quyền lo ngại vì vừa thể hiện dân trí thấp vừa bệnh hoạn dẫn đến họ phải hạn chế bớt các quyền tự do của công dân. Nghĩa là gây ra phản tác dụng.

Công dân có quyền phê bình, chỉ trích xã hội, kể cả về những vấn đề họ không biết rõ. Nhưng những người muốn PBXH một cách hiệu quả thì nên đầu tư thời gian tìm hiểu kỹ vấn đề mình muốn phản biện.

Người đời thường tự huyễn, tự cho rằng tài năng và đóng góp của mình đối với xã hội lớn lao vô cùng. Căn bệnh tự huyễn của giới trí thức lề trái còn nặng hơn mức bình thường, và nguy hiểm hơn nữa, đấy là căn bệnh tập thể. Tinh thần quan tâm đến cộng đồng và năng lực tư duy phê phán của người Việt còn rất nhiều vấn đề. Nhưng lề trái nói chung không có khả năng đóng góp gì đáng kể để cải thiện tình hình đó.

 

Liên xô: đất nước đã hi sinh 27 triệu công dân trong Thế chiến II

Liên Xô đã hi sinh 27 triệu người, 14% dân số, trong cuộc chiến chống phát xít. Chưa kể vài chục triệu người nữa mang thương tật trên mình. Tổng cộng số người chết và thương tật có lẽ lên đến 25%-35% dân số. Đại đa số trong đó là người Nga. (So sánh với tổn thất nhân mạng của Anh, Mỹ trong thế chiến II, mỗi nước 300-400,000, Pháp thiệt mạng 650,000, mới thấy thật khôi hài).

Vậy mà có nhiều người lại nghĩ rằng người Nga sẽ nhạo báng những hi sinh, mất mát quá lớn ấy để ủng hộ phương tây. Không khó hiểu ở VN, cũng chính những người ấy chạy theo đám thua trận để thương vay khóc mướn, kích động thù hận, chà đạp lên những mất mát, hi sinh to lớn hơn gấp nhiều lần của phe thắng trận.

Chính những người ấy tuyên truyền ghét Liên Xô, ghét Nga để kích động quần chúng dân trí thấp chống cộng sản. Những người ấy đòi định hướng nhân dân đấu tranh vì một xã hội tốt đẹp hơn.  Những người ấy cũng rao giảng hoà hợp hoà giải dân tộc.



 

MỖI CHẾ ĐỘ ĐỀU PHẢI CÓ HỌC THUYẾT NỀN TẢNG

 (Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Mỗi chế độ đều phải dựa trên một học thuyết nền tảng nào đó. Trên cơ sở đó các nhà tư tưởng cải tổ, sửa chữa, pha trộn với các học thuyết khác, sao cho phù hợp với hoàn cảnh nước mình. Thật ra không có nước nào trên thế giới theo đuổi Chủ nghĩa cộng sản (CNCS) hay Chủ nghĩa tư bản (CNTB) nguyên gốc. Hầu hết các nước hiện nay đều pha trộn giữa các học thuyết, chỉ có điều tỷ lệ pha trộn khác nhau.

 Ví dụ, CNTB nguyên gốc ở Mỹ thời kỳ lập quốc cách đây 250 năm khá dã man. Tuyên ngôn độc lập viết rằng: “Chúng tôi khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được Tạo hoá ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tuy nhiên quyền bình đẳng, tự do, mưu cầu hạnh phúc đó chỉ dành cho đàn ông tự do, da trắng, không dành cho nô lệ, người da màu, và phụ nữ. Thời kỳ Washington làm tổng thống các bang ở gần thủ đô như Maryland, Virginia có đến 25%-40% dân số là nô lệ. Thời kỳ phát triển công nghiệp, công nhân của Mỹ bị bóc lột hết sức tàn tệ. Nửa đầu thế kỷ thứ 20, chính nhờ học hỏi tư tưởng của CNCS và một số chủ nghĩa khác, Mỹ mới cải cách điều kiện làm việc của công nhân và quan tâm hơn đến quyền bình đẳng của phụ nữ, người da màu. Nửa sau thế kỷ thứ 20, chính vì phe XHCN lên án, chế riễu rất nhiều cho nên Mỹ mới thực sự cải cách nhân quyền. Đến tận thập kỷ 1980s, phụ nữ và người da màu ở Mỹ mới có quyền bình đẳng gần bằng đàn ông và người da trắng.

Ở VN hiện nay, nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, đối ngoại đều học hỏi các học thuyết của phương tây. Kinh tế thị trường là học tập của CNTB. Tuy nhiên, về chính trị vẫn dựa trên triết học Marx-Lenin bởi vì đấy là học thuyết duy nhất gần đây được xây dựng một cách hoàn chỉnh nhằm biện minh cho một nền chuyên chính. Hoàn cảnh VN hiện chưa cho phép một hệ thống đa nguyên, đa đảng. Người Việt yếu kém về triết học, không tự xây dựng được học thuyết của riêng mình thì bắt buộc phải dựa vào học thuyết của tây.

Tuy nhiên, cùng dựa trên học thuyết của CNCS nhưng mỗi quốc gia vẫn theo đuổi những đường lối hơi khác nhau. Ví dụ ở VN, facebook, google, instagram được hoạt động bình thường. Sắp tới, các tổ chức công đoàn độc lập được thành lập ở mức doanh nghiệp. Đấy là những thứ Trung Quốc không cho phép.

Điểm yếu nhất của CNTB là bất bình đẳng rất lớn. Một số người quá giầu, có hàng chục triệu đô trở lên. Nhưng đa số công dân trong xã hội vẫn nghèo. Mắc bệnh hiểm nghèo không có tiền chữa. Ngay ở Mỹ, đa số người dân cũng không đủ tiền học đại học. Phần lớn sinh viên phải vay tiền học đại học. Nhiều người phải đăng lính để được nhà nước nuôi học đại học, nhưng khi Mỹ cần can thiệp quân sự ở các nước khác, cấp trên yêu cầu là họ phải nghỉ học ngay lập tức để ra chiến trường. Chính vì thấu hiểu nhược điểm rất lớn của CNTB cho nên nhiều nước Bắc Âu áp dụng nhiều tư tưởng của CNXH (giai đoạn quá độ của CNCS) để giảm bớt bình đẳng trong xã hội. Họ đánh thuế thu nhập rất nặng và đầu tư nhiều tiền cho các phúc lợi xã hội như trường học, trạm ý tế, các công trình công cộng, bảo trợ thất nghiệp và y tế.

Hiện giờ Trung Quốc đang phát triển ý tưởng Xã hội Thịnh vượng Chung. Ý tưởng đó là chính quyền yêu cầu những người giàu có và các doanh nghiệp lớn phải có nghĩa vụ đóng góp nhiều hơn để xoá đói, giảm nghèo, và sự thịnh vượng ở khu vực mà họ sinh sống hoặc có trụ sở. Đấy là ý tưởng rất nhân văn.

Hiện nay ở VN, nhiều người không có kiến thức gì cứ đòi bỏ hoàn toàn CNXH, chủ nghĩa Marx-Lenin. Nếu bỏ thì chính quyền lấy học thuyết gì để định hướng chế độ. Tôi không nói rằng các chủ nghĩa đó hoàn toàn đúng đắn. Nhưng phải có những nghiên cứu nghiêm túc, khách quan.

Thật ra chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường tương đối dễ. Loài người từ thời thượng cổ vẫn kinh doanh theo kiểu tự phát, không bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ, một dạng sơ khai của kinh tế thị trường. Thế nên sau này các nước từ bỏ kinh tế kế hoạch chuyển sang kinh tế thị trường đều thành công. Nhưng chuyển đổi dân chủ thì cần nhiều điều kiện cho nên rất nhiều nước chuyển đổi không thành công, thử nghiệm một thời gian lại trở nên hỗn loạn hoặc quay lại chế độ độc tài. Người Việt vốn kém cỏi thì phải chịu khó học tập tất cả các nước khác. Học thuyết của nước nào cũng có cái hay, cái dở. Có cái hay nhưng không phù hợp với nước mình thì cũng không dùng được.

 

Biện minh cho tranh luận vô văn hoá

Tranh luận vô văn hoá là việc thường xuyên chửi bới thô tục, hoặc có những hành vi “không quân tử” như mỉa mai, châm biếm, xúc phạm cá nhân. (Nếu chỉ đôi khi chửi bới hoặc “bỏ bóng đá người” do thiếu kiềm chế thì không thuộc dạng này). Hiện giờ, có người (từng là) nhà giáo lại cố gắng bênh vực những kẻ tranh luận vô văn hoá. Lắp ghép một cách khiên cưỡng những phát biểu của Mill “tôn vinh bất kỳ ai từ phía đối lập”, phải bảo vệ “phe yếu thế”, “đạo đức cao nhất trong thảo luận là sự trung thực, chứ không phải lời lẽ có cánh”.

 Ngay cả ở phương tây, nơi rất nhiều quý vị mơ mộng về tự do, cũng không hề có trường học nghiêm túc nào cho phép học trò tranh luận vô văn hoá, bất kể là lớp học offline hay online. Học viên luôn phải vừa rèn luyện tư duy phê phán (critical thinking) vừa cố gắng là người lịch lãm.

Hiện nay trên Internet, có khá nhiều diễn đàn yêu cầu thành viên tuân thủ nguyên tắc NICE, nghĩa là không được chửi bới thô tục và “bỏ bóng đá người”. Các đây vài năm, diễn đàn IVANET cũng cho phép tranh luận chính trị tương đối thoải mái về mọi chủ đề, miễn là tuân thủ nguyên tắc này. Rất đông giới chống cộng, giới có thù hận chui vào, hi vọng tuyên truyền “nâng cao dân trí chính trị” cho độc giả. Nhưng họ không có kiến thức, lý lẽ gì ra hồn, chỉ hằn học, cay cú, chửi bới và “đánh dưới thắt lưng”, nên suốt ngày bị khoá nick. Một thời gian sau, hội đó chán vì không đạt được mục đích cho nên đã bỏ hết.

 Hiện giờ vẫn còn nhiều diễn đàn chính trị không tuân theo nguyên tắc “NICE” thì hoặc là cái ổ rác kinh hoàng, hoặc là vắng hoe vắng hoắt, thua rất xa các trang facebook cá nhân. Trên Internet không thiếu người am hiểu chính trị nhưng vì sao họ rất hiếm khi vào đó? Bởi vì, chính trị cũng giống như toán học, có nhiều trình độ. Có trình độ lớp 1, 2 và có lớp 12, đại học, cao học. Các diễn đàn như vậy đầy rẫy những kẻ trình độ chỉ lớp 1, 2 nhưng vô cùng tự tin vào bản thân. (Tiếc là chính trị không phải là khoa học chính xác 1+1=2, cho nên không có cách gì chỉ cho một người rằng họ rất kém). Không lẽ những người lớp đại học lại “thích tranh luận” với những kẻ lớp 1, 2 (trong khi những kẻ lớp 1,2 được quyền thoải mái chửi bới tục tĩu, và “bỏ bóng đá người”)? Chỉ có một vài an ninh “nằm vùng” ở các diễn đàn đó để thấy kẻ nào tuyên truyền có hại cho cộng đồng (do dốt nát hoặc do mục đích đen tối) thì tẩy chay hoặc chỉ ra cái sai để nó đỡ lừa đảo độc giả dân trí thấp.

 Nói vắn tắt, các diễn đàn không tuân theo nguyên tắc NICE chất lượng rất thấp. Ngoài việc cung cấp cho nhiều quần chúng cơ hội “đâm chém” để xả stress, xả thù hận, hoặc để thoả mãn “hoang tưởng” của bản thân, nó không đạt được mục đích rèn luyện tư duy phê phán hoặc tranh luận để làm sáng tỏ vấn đề. Đã từng có một số học giả vào một diễn đàn như vậy với hi vọng tận dụng “trí tuệ tập thể”. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, họ đã bỏ của chạy lấy người, và bị nhiều kẻ ở đó chửi bới mọi rợ.

 

Chính trị là lĩnh vực chuyên môn sâu. Hơn thế, hầu hết các vấn đề quan trọng của quốc gia và của các bộ ngành đều phức tạp cần nhiều chuyên gia tranh luận mới có thể sáng tỏ. Việc tranh luận giữa các chuyên gia thì mới tạo ra được “Trí tuệ tập thể”. Không có “trí tuệ tập thể” giữa những người trình độ tiểu học, trung học khi bàn về những vấn đề bậc cao học. Hầu hết những người tham gia Internet không đủ trình độ để tranh luận về các vấn đề chính trị quan trọng. Tuy nhiên, bàn luận là quyền của công dân. Họ có quyền tranh luận về bất kỳ vấn đề gì, nhưng nên “biết mình là ai”. Chỉ nên coi tranh luận trên Internet để tăng cường hiểu biết và rèn luyện nhân cách. Nếu ngoài đời mình hiếm khi chửi mắng, “đánh dưới thắt lưng” người khác, thì tại sao lên mạng mình lại như vậy.


 

Bôi nhọ, xúc phạm người của công chúng

 Người của công chúng (celebrities) thường được hưởng lợi nhiều từ xã hội cho nên thường bị công chúng soi mói, khắt khe hơn những người khác. Họ cũng gặp khó khăn hơn những người khác trong xã hội rất nhiều khi muốn khởi kiện những người bôi nhọ mình.

 Tuy nhiên, các nước dân chủ, phát triển cũng xử phạt tội xúc phạm uy tín danh dự, nhân phẩm của những người của công chúng.

 Điều 278 Luật Hình Sự của Italia quy định việc xúc phạm danh dự của tổng thống có thể phải chịu mức án tù 1-5 năm. Ở phương tây, các chính trị gia thường ít kiện những kẻ vu khống họ vì gặp nhiều bất lợi. Tuy nhiên, cũng tuỳ quốc gia. Gần đây ở Úc, các chính trị gia khá chăm chỉ kiện cáo và đã có một số trường hợp thắng kiện. Nghị sĩ Úc Anne Webster đã thắng kiện Karen Brewer và bà này phải trả cho nghị sỹ 875,000 AUD vì đã vu khống bà tham gia mạng ấu dâm. Tổng trưởng ngân khố Úc Joe Hockey đã thắng kiện 200,000 AUD đối với Fairfax Media vì công ty này vu khống ông tham nhũng. Phó thủ hiến bang New South Wales John Barilaro cũng thắng kiện và buộc Google phải trả 515,000 USD vì đã đăng video lăng mạ ông của diễn viên hài Shanks. Riêng với diễn viên hài, ông không kiện tiếp vì diễn viên này đã xin lỗi và sửa lại video. Ở Thái Lan, tội phỉ báng Hoàng Gia bị phạt nhiều năm tù. Các nguyên thủ của Singapore như Lý Quang Diệu, Lý Hiển Long đã nhiều lần thắng kiện những bôi nhọ mình. Năm 2021, thủ tướng Lý Hiển Long cũng đã thắng kiện và buộc hai blogger phải bổi thường 370,000 SGD về một bài viết về căn nhà của ông.

 Về xúc phạm các nghệ sỹ, ở Hàn Quốc ca sỹ Song Hye Kyo từng bị một người đàn ông tung tin đồn là gái bao trên mạng. Cô khởi kiện và thắng tại tòa, được bồi thường 3 triệu won (hơn 53 triệu đồng). Một người bôi nhọ nghệ sỹ IU đã phải nhận 8 tháng tù treo, 2 năm quản chế, 180 giờ phục vụ cộng đồng, 40 giờ nghe giảng dạy.