Friday, September 27, 2024

KHÔNG NÊN ẢO TƯỞNG VÀO TỰ DO HỌC THUẬT Ở MỸ

 https://docs.google.com/document/d/1acz-83z1E8-Jk4VXLbzkTDpdqLWyiNYZ/edit

GIỚI KHOA HỌC PHƯƠNG TÂY RẤT TRÂN TRỌNG NGƯỠNG MỘ KARL MARX

 https://docs.google.com/document/d/1DXtC2a0tK383U19ob1OAfA7CzVLOCFM7/edit

Đại học Fulbright

Không biết nhân vật nào chỉ đạo chiến dịch tấn công đại học Fulbright. Người này hình như không hiểu gì về chính trị đối lập nhưng bóng gió liên hệ trường này với cách mạng màu. Đại học Fulbright là trường do Bộ Giáo dục VN quản lý [1]. Trường phải tuân thủ Nghị định 86/2018/NĐ-CP, trong đó Điều 37 viết rằng: “Chương trình giáo dục thực hiện tại cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài phải thể hiện mục tiêu giáo dục, không có nội dung gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng; không truyền bá tôn giáo, xuyên tạc lịch sử; không ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và phải bảo đảm điều kiện liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo.”

Nghĩa là về cơ bản, trường sẽ không dám làm gì vi phạm Điều 37 của nghị định đó. Trường đại học là nơi đào tạo kiến thức chuyên môn, hơn nữa đặt trên lãnh thổ VN thì ai dám làm gì? Những chuyện như clip năm ngoái nói về lính Mỹ chỉ là sơ xuất rất nhỏ, hiếm khi xảy ra.

Trong sứ mệnh của trường có trích dẫn lời của TNS Fulbright: “Chúng ta phải dám nghĩ những điều thường bị coi là không tưởng. Chúng ta phải dám học cách khám phá mọi khả năng và giới hạn mà chúng ta đang đối mặt trong một thế giới đầy phức tạp và biến động không ngừng.” Chính vì thế, khẩu hiệu khi tốt nghiệp của trường này là Không sợ hãi.

Thật ra, các trang facebook, trang web của lề trái, facebook đám bất mãn chế độ cả trong và ngoài nước còn nguy hiểm gấp 1 triệu lần đại học Fulbright. Thử hình dung, sinh viên đại học Fulbright và các đại học khác có facebook trên mạng, hàng ngày đọc tin tức lề trái, giao lưu với đám bất mãn đấy thì ảnh hưởng đến mức độ nào. Trong khi đấy, phản biện của lề phải phần lớn là ngô nghê, chỉ để thuyết phục những người tuy sơ sài, không đáp ứng được những thắc mắc của độc giả có tư duy tốt.

Tính theo định lượng, mỗi ngày các trang lề trái, facebook của đám bất mãn chế độ xả vài trăm tin tức/bài phân tích độc hại. Mỗi năm hàng triệu tin tức/bài phân tích độc hại. Trong khi đó những phốt của đại học Fulbright tính đến nay mới chỉ đếm trên đầu ngón tay. Có lẽ trung bình 1 năm chưa đến 1 vụ. Vậy thì cái nào gây hại lớn hơn? Vụ không mang cờ VN khi tốt nghiệp chỉ là sơ xuất chứ không phải nhồi nhét tư tưởng gì cho sinh viên cả.

 

 

SUY DIỄN QUÁ ĐÀ VỀ TRƯỜNG FULBRIGHT

Tự dưng lại có một đám người không hiểu gì về chính trị đối lập suy diễn đủ thứ về trường Fulbright. Suy diễn về sứ mệnh của trường: "Sứ mệnh của Đại học Fulbright Việt Nam là ươm dưỡng và truyền cảm hứng cho những thế hệ lãnh đạo mới". Suy diễn về khẩu hiệu "Fearless - Không sợ hãi". Cứ như thể đấy là nơi đào tạo sinh viên bạo loạn.

Hiện giờ các tour tổ chức cho trẻ em đi Mỹ học vài tuần dịp tết đều quảng cáo là khoá học đào tạo kỹ năng "nhà lãnh đạo tương lai". Các trường đại học nói về sứ mệnh của trường thật độc đáo để quảng cáo thu hút sinh viên, tạo danh tiếng cũng là hết sức bình thường.

Nhưng quý vị suy diễn thì cũng nên để thời gian suy ngẫm lâu lâu một chút. Bằng cơ chế nào để nhồi nhét tư tưởng bạo loạn vào đầu sinh viên, khi mà trường đặt trên lãnh thổ VN? Khi mà trường phải cam kết tuân thủ Điều 37, Nghị định 86/2018/NĐ-CP? Nếu không chỉ ra được cơ chế nào thì không nên tin vào những chuyện hoang đường như vậy.

Không có trường đại học nào trên thế giới là nơi đào tạo bạo loạn. Nhưng tại sao lại có những sinh viên tổ chức bạo loạn? Vì họ đọc thông tin ở bên ngoài trường: trên Internet, mạng xã hội, từ các cá nhân bất mãn chế độ, từ các hội nhóm nổi loạn bên ngoài trường.

+ Từ thời các lãnh đạo đảng đầu tiên ở VN còn là học sinh/sinh viên, họ học hỏi chính trị từ những bài báo, bản viết tay chuyền cho nhau, từ gặp gỡ các sĩ phu bất mãn ở bên ngoài trường.

+ Thời chống Mỹ, sinh viên học hỏi về biểu tình, bạo loạn ở đâu? Từ các tờ báo, các hội sinh viên ở bên ngoài, từ những người của mặt trận giải phóng.

+ Sinh viên các đại học Trung Quốc tạo ra vụ Thiên An Môn đã học hỏi các thông tin về biểu tình, bạo loạn ở đâu. Đương nhiên không phải trên giảng đường. Không trường nào ở Trung Quốc dạy họ biểu tình cả. Họ học hỏi những thứ đó là do dưới thời Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương báo chí được tự do chỉ trích chính quyền, giáo sư đại học được tự do viết bài kích động. Sinh viên được thoải mái thành lập nhóm chống đối, thoải mái bàn bạc kế hoạch biểu tình.

+ Từ 1975 đến nay, ở VN có hàng nghìn người trở thành bất đồng chính kiến. Trong nhóm 72 người ký văn bản đòi đa nguyên đa đảng, có 13 người học ở Liên Xô. Còn lại học ở VN, Trung Quốc, Đông Âu. Chả ai liên quan gì đến Fulbright. Số người bất mãn chế độ nhưng ít khi thể hiện ở VN hiện nay là hàng triệu người, nhưng có mấy ai ở trường Fulbright. Họ học hỏi những tư tưởng bất mãn đấy ở đâu: từ báo chí lề trái, từ facebook của các nhân vật bất mãn, thù hận.

+ Tổng kết nguyên nhân vì sao Liên Xô sụp đổ: Không có nguyên nhân nào xuất phát từ việc giảng dạy trong trường đại học.

 

Không phải phi lý những nơi đào tạo đối lập trên thế giới đều phải thành lập các khoá học riêng, do những giảng viên là giới hoạt động chính trị, hoạt động nhân quyền.

Để một người trở thành bất đồng chính kiến hay có tư tưởng bạo loạn thì người đó phải đọc vài chục đến hàng trăm bài viết có nội dung bôi xấu chế độ, và phải có cơ hội trao đổi với những người đồng quan điểm.

Đa số giảng viên đại học Fulbright hiện nay vẫn là những người Việt. Hầu hết các giảng viên trường này là tiến sĩ tốt nghiệp trường danh tiếng ra. Quý vị nghĩ rằng các giảng viên người Việt đó không yêu nước bằng các quý vị? Nếu chẳng may có bài giảng nào đó có vấn đề gì đó các giảng viên, sinh viên không ngầm báo cho công an?

Cứ nghĩ rằng chỉ mỗi mình mình yêu nước thì nguy hiểm lắm.

Tôi đã giải thích chương trình YSEALI độc lập với trường Fulbright. Học viên khác nhau, giảng viên khác nhau. Chỉ cùng địa điểm, bởi YSEALI do Bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ.

Từ 2017, đã có 2 người tham gia khoá học ngắn hạn của YSEALI đi tù vì chống chế độ (THP và PKK). Ít nhất một người nữa cũng trở thành bất đồng chính kiến (có đi tù hay không thì không rõ). Thế nhưng năm 2020, chính phủ VN vẫn đồng ý cho phép Bộ Ngoại Giao Mỹ đầu tư 5 triệu $ để thành lập viện YSEALI đặt trong khuôn viên đại học Fulbright. Đương nhiên chính phủ không thấy viện đó nguy hại như các vị tưởng tượng cho nên họ mới cho phép đặt như vậy. Thực chất viện đó chỉ đào tạo các kỹ năng lãnh đạo, không có gì độc hại, cũng chẳng kích động gì. Hơn nữa, có thể chính quyền tính toán rằng đồng ý cho thành lập viện để quản lý dễ hơn. Những cựu sinh viên YSEALI đó trở thành bất mãn, chống chế độ là do đọc tin lề trái, tiếp xúc đám người bất mãn, thù hận chế độ ở bên ngoài trường, chứ không phải vì họ học chương trình đó.

Quý vị nào còn bức xúc thì nên chất vấn chính quyền về YSEALI. Nếu gọi là "nguy hiểm", với "kết quả" như vậy YSEALI nguy hiểm hơn FULBRIGHT nhiều. Còn nếu không hiểu tại sao chính quyền làm như vậy thì đừng lo lắng về trường Fulbright cho mệt.

Việc phản đối Bob Kerrey là hiệu trưởng, phản đối chiếu phim "Chiến tranh VN", phản đối phát ngôn của bà Thuỷ về lính Mỹ, phản đối sinh viên tốt nghiệp diễu hành chỉ mang cờ Fulbright, không mang cờ tổ quốc đều là cần thiết. Nhưng không nên suy diễn quá xa. Bởi vì để biến một người trở thành bất đồng chính kiến hay có tư tưởng tụ tập biểu tình, nổi loạn cần rất nhiều thứ: được đọc rất nhiều bài báo có tư tưởng chống đối, có nhóm đồng chí hướng với nhau cùng trao đổi. Nguy cơ của sinh viên Fulbright nổi loạn chẳng hơn gì sinh viên các trường đại học khác ở VN.

PS: Điều 37, Nghị định 86/2018/NĐ-CP viết rằng: “Chương trình giáo dục thực hiện tại cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài phải thể hiện mục tiêu giáo dục, không có nội dung gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng; không truyền bá tôn giáo, xuyên tạc lịch sử; không ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và phải bảo đảm điều kiện liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo.”

 

CHƯƠNG TRÌNH YSEALI

YSEALI là khoá đào tạo ngắn hạn về kỹ năng lãnh đạo. Chương trình này đặt cơ sở trong khuôn viên đại học Fulbright bởi vì do Bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ. Tuy nhiên chương trình này hoàn toàn độc lập với đại học Fulbright bởi vì có chế độ tuyển sinh riêng, đội ngũ giảng viên riêng. Những người học YSEALI không phải là học viên Fulbright. Nhiều cán bộ, nhân viên viên các cơ quan nhà nước và các đoàn thể xã hội cũng theo học chương trình này. Về cơ bản, nội dung chương trình này cũng không có vấn đề gì. Thế nhưng đã từng có 3 học viên theo học chương trình này trở thành bất đồng chính kiến, phải đi tù. Lý do chủ yếu là vì nhóm chuyên tổ chức bạo loạn ở Hồng Kông (Hoàng Chi Phong, Chu Đình,…) cũng từng là học viên của chương trình này ở Hồng Kông. Có thể 3 học viên VN sau khi tốt nghiệp khoá học này đọc tin lề trái nhiều và bị kích động bởi nhóm bạo loạn Hồng Kông cho nên mới như vậy. Tuy nhiên, hiện nay chính phủ Trung Quốc thay đổi luật pháp, không cho phép các công dân được tự do thành lập đảng đối lập, tổ chức đối lập nữa. Chính vì vậy nhóm nổi loạn ở Hồng Kông đã phải giải tán, nhiều người ra nước ngoài tị nạn. Hơn nữa ở VN có mấy người đi tù thì những người khác sẽ phải suy nghĩ.

Hiện nay, ở VN, sở dĩ các cơ quan truyền thông chính thống vẫn chưa có ý kiến gì về YSEALI có lẽ là vì bản thân chương trình của khoá học này không có vấn đề gì. Những người dạy cũng không kích động học viên điều gì. Các kỹ năng lãnh đạo trong khoá học cũng rất hữu ích để nâng cấp năng lực lãnh đạo của những người trẻ trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội ở VN. VN cũng cần học hỏi các kỹ năng lãnh đạo tiên tiến của thế giới. Nếu có vấn đề gì thì báo chí đồng loạt lên án chương trình này. Nếu nghiêm trọng thì chính quyền sẽ yêu cầu đóng cửa khoá học.

Nói vắn tắt, học tập chuyên môn luôn là điều tốt. Những trang lề trái, những nhân vật bất mãn chế độ trên facebook còn nguy hiếm gấp 1 triệu lần đại học Fubright. Cần phân biệt đại học Fulbright với chương trình YSEALI. Những người chủ trương tấn công đại học Fulbright có lẽ không hiểu gì về chính trị đối lập. Họ nên tập trung nguồn lực để phản hồi những luận điệu trên mạng thay vì chĩa mũi nhọn vào đại học Fulbright. Mỗi lo ngại lớn nhất hiện nay của VN là nhóm dân tộc thiểu số Khmer Krom và các dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên và ở miền núi phía bắc. Vừa rồi, ở Campuchia đã xảy ra bạo loạn lớn. Họ cũng cố gắng kích động cộng đồng Khmer Krom ở Campuchia và Việt Nam. Những kẻ nổi loạn tuyên truyền chống VN và đòi lại đất đai của đế chế Campuchia ngày xưa để kích động công chúng.

 

CÔ LIÊN HẰNG VÀ ĐẠI HỌC FULBRIGHT

Vừa rồi, tôi có xem một clip trên mạng nói về việc GS Nguyễn Thị Liên Hằng, một giáo sư sử học của đại học Columbia, đã từng có một số nghiên cứu với nhiều quan điểm lật sử về chiến tranh VN 1955-1975. Hiện tại cô Liên Hằng là thành viên của Hội đồng Tín thác của đại học Fulbright. Clip đó nói rằng chúng ta đã "rước giặc vào nhà", rằng cô Liên Hằng sẽ đào tạo ra hàng trăm sinh viên đại học Fulbright theo quan điểm lật sử.

Cô Liên Hằng là một giáo sư giỏi, người đã được đại học Harvard cân nhắc thay thế GS Hồ Tài Huệ Tâm giữ ghế giáo sư sử học VN duy nhất ở đại học Harvard sau khi bà Tâm nghỉ hưu. Điều quan trọng chúng ta cần nhớ là cô Liên Hằng là một người Mỹ, mang quốc tịch Mỹ. Giống như hầu hết những người Mỹ khác, cô phục vụ lợi ích của nước Mỹ chứ không phải lợi ích của VN. Quan điểm của đại đa số học giả Mỹ về chiến tranh Nam-Bắc hoàn toàn ngược với VN: những người Mỹ tham chiến được coi là anh hùng, còn VN thì coi họ là giặc. Ngược lại, các học giả Mỹ thường gọi bộ đội ta là giặc, là quân thù.

Bất kể gia đình cô Liên Hằng có dính dáng gì đến quân cán chính VNCH hay không, chỉ riêng việc cô ấy là người Mỹ, đã cho thấy khả năng cao cô ấy sẽ có quan điểm giống đa số những người Mỹ yêu nước khác. Chúng ta không nên kỳ vọng rằng những người Mỹ khác làm việc ở đại học Fulbright không có quan điểm tương tự. Có thể một lúc nào đó, độc giả sẽ phát hiện ra các giảng viên Mỹ khác của trường Fulbright có những phát ngôn/bài viết chướng tai như vậy về chiến tranh VN. Họ là người Mỹ. Đối với nước Mỹ, quan điểm như vậy là hết sức bình thường.

Điều quan trọng là cô Liên Hằng chỉ là thành viên Hội đồng Tín thác (một dạng giống như Hội đồng Quản trị). Cô ấy không trực tiếp tham gia giảng dạy. Nếu cô Hằng hoặc một giảng viên người Mỹ khác giảng dạy một học phần nào đó hoặc tổ chức một hội thảo ở đại học Fulbright có nội dung chống lại quan điểm chính thống của nhà nước VN thì mới cần phải xem lại. Có thể yêu cầu cắt bỏ nội dung đó, từ chối cho họ tổ chức hội thảo, hoặc yêu cầu học phần đó do người Việt giảng dạy. Theo như tôi biết, đại học Fulbright hiện nay vẫn dạy triết học Marx-Lenin cho bậc cao học, (không biết có dạy bậc đại học không). GS Vũ Ngọc Hoàng, nguyên phó ban tuyên giáo, là giảng viên chính. Nhiều học phần khác về luật, chính trị, kinh tế, xã hội cũng do người Việt giảng dạy.

Bộ giáo dục cũng có thể tiến hành khảo sát ngẫu nhiên mỗi năm 1 lần các sinh viên đại học, cao học của đại học Fulbright xem các học viên đó có được dạy những gì trái với chủ trương, chính sách của nhà nước hay không. Nếu có thì cần chấn chỉnh ngay. Tôi nghĩ là đến giờ vẫn không có những nội dung như vậy đâu, bởi nếu có thì chắc chắn sẽ có những sinh viên phản ánh với công an.

Cách đây mấy năm, đại học Fulbright đã phải huỷ bỏ sự kiện đại sứ Ted Osius giới thiệu cuốn hồi ký của ông ta có một số nội dung "không phù hợp" với quan điểm của nhà nước VN. Ngay sau khi cuốn sách được phát hành, đã có một số người lên án một số đoạn. Thế nên khi trường Fulbright thông báo tổ chức buổi giới thiệu sách, chính quyền liền có ý kiến, buộc họ phải hủy buổi đó.

Nếu chỉ vì cô Liên Hằng đã từng có những nghiên cứu có quan điểm lật sử mà không cho phép cô ấy tham gia quản lý đại học Fulbright thì tôi e rằng sẽ phải cấm cửa hầu hết những người Mỹ khác làm việc cho đại học này. Không tin thì cứ thử hỏi quan điểm của họ về cuộc chiến Bắc-Nam.

[1]https://lawnet.vn/giao-duc/truong-dai-hoc-fulbright-viet-nam-chiu-su-quan-ly-nhu-the-nao-khi-hoat-dong-tai-viet-nam-5652.html

 

Đại học Fulbright, học bổng Fulbright và chính trị đối lập

(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Mấy hôm nay, từ sau vụ đảo chính ở Bangladesh, dư luận lại sôi sục, lo ngại về cách mạng mầu. Một số người chĩa mũi nhọn, tuyên truyền học bổng Fulbright là nguồn gốc bạo loạn, và reo rắc ác cảm về đại học Fulbright VN. Một vài người hỏi tôi về bài viết của tôi về đại học Fulbright năm 2016. Đợt ấy, tôi phản đối Bob Kerrey và cũng chưa tìm hiểu nhiều lắm về chính trị đối lập cho nên đã viết một số đoạn khá gay gắt. Hôm nay, tôi muốn có một vài lời giải thích.

1. Việc cử người du học theo học bổng Fulbright và thành lập đại học Fulbright ở VN là một chủ trương lớn của chính phủ. Học bổng Fulbright đã giúp đỡ đào tạo hàng nghìn cán bộ trẻ cho VN từ hơn 30 năm nay. Trường FETP (tiền thân của ĐH Fulbright) và đại học Fulbright đã đào tạo rất nhiều chuyên gia, chuyên viên chính sách công cho VN để phục vụ nhu cầu Đổi Mới. Bắt đầu từ năm nay, học bổng Fulbight sẽ tài trợ cho các chương trình thạc sĩ về khoa học công nghệ ở Mỹ, thay vì chỉ tài trợ cho các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như trước đây. Tôi cho rằng đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của chính phủ.

2. Đã có một số Uỷ viên Bộ Chính trị, phó thủ tướng, nhiều bộ trưởng, thứ trưởng, cục/vụ trưởng và phó, và nhiều lãnh đạo các cấp khác của VN du học Mỹ bằng học bổng Fulbright. Hàng năm đại học Fulbright vẫn làm cầu nối để tổ chức đối thoại và phản biện cao cấp giữa chính phủ VN và các chuyên gia hàng đầu của Mỹ, đặc biệt là về lĩnh vực kinh tế và chính sách. Nhiều người từng nhận học bổng Fulbright nhưng đã chống lại việc Bob Kerrey làm chủ tịch đại học Fulbright, hoặc chỉ trích Mỹ trong một số vấn đề chính trị.

 

II. MỘT SỐ SỰ THẬT VỀ CÁCH MẠNG MẦU

3. 100% các nước đề xảy ra cách mạng mầu là do họ cho phép các đảng đối lập, tổ chức/nhóm chính trị đối lập, và xã hội dân sự tự do hoạt động. Vụ Thiên An Môn xảy ra ở thời kỳ Triệu Tử Dương là tổng bí thư. Ông Triệu đã không ngăn cản ngay từ đầu các nhóm sinh viên tổ chức bạo loạn, cộng thêm việc để cho các giáo sư thoải mái tuyên truyền, kích động. Nếu không thì đã không có sự kiện ấy. Từ sau 1989, chính phủ Trung Quốc rút kinh nghiệm cho nên không xảy ra những vụ tương tự như vậy nữa.

4. Nhiều người tuyên truyền rằng các cuộc bạo loạn dẫn đến đảo chính đều do sinh viên lãnh đạo. Nhìn lại lịch sử, sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc, đảo chính ở Đông Âu cuối 1980s, mùa xuân Ả rập 2011-2013, Hồng Kông 2014-2019, Miến Điện 2021, Bangladesh 2024 đúng là có sự tham gia đông đảo của sinh viên. Nhiều sinh viên là những người lãnh đạo, tổ chức chính.

5. Nhưng VN thì khác. Từ 2005 đến nay, hầu như tất cả những cuộc tụ tập, biểu tình, bạo loạn ở VN (v.d., chống Trung Quốc, bảo vệ môi trường, cây xanh, chống xả thải Formosa, chống Luật Đặc Khu, chống luật An Ninh Mạng, vụ Đồng Tâm…) đến nay đều do những người đã tốt nghiệp tổ chức, dẫn dắt. Rất hiếm sinh viên tham gia.

Hầu hết những người đứng ra tổ chức, dẫn dắt các cuộc biểu tình, bạo loạn ở VN không phải là những người bất đồng chính kiến, cũng không được đào tạo về đấu tranh dân chủ, xã hội dân sự ở nước ngoài. Họ là những người bình thường, nhưng có tố chất lãnh đạo/dẫn dắt đám đông. Khi chính quyền không khắt khe thì họ sẽ tranh thủ tổ chức một vài vụ tụ tập để đấu tranh vì cái gì đó. Nhưng khi chính quyền cấm đoán thì họ nằm im. Nguyên nhân là do VN ngăn chặn và trừng phạt mọi mầm mống tổ chức/hội nhóm chính trị đối lập/xã hội dân sự. Thế nên hầu hết những người có năng lực tổ chức/dẫn dắt đám đông ngại dính đến chính trị đối lập. Trong khi đó, hầu hết những người bất đồng chính kiến là những người ngông cuồng, tham gia các khoá học đào tạo về chính trị đối lập ở hải ngoại, nhưng không có năng khiếu lãnh đạo/tổ chức. Việc nhà trường cấm đoán cũng khiến sinh viên ngại dính dáng đến chính trị. Ở các nước từng xảy ra cách mạng mầu thì khác. Do các đảng phái/tổ chức/hội nhóm đối lập được tự do hoạt động cho nên những người có năng khiếu lãnh đạo/dẫn dắt biểu tình, bạo loạn cũng đồng thời là những người hoạt động động chính trị đối lập. Họ tự do tham gia các khoá đào lạo về dân chủ, nhân quyền, xã hội dân sự ở hải ngoại. Họ có quan hệ mật thiết với giới chính trị hải ngoại và được đám này hỗ trợ cả về tài chính và xây dựng các kế hoạch hành động.

6. Cần phân biệt tụ tập/biểu tình vì những “lợi ích trực tiếp” và những “lợi ích không trực tiếp”. Chính quyền VN thường không cản trở người dân tụ tập đấu tranh vì những “lợi ích trực tiếp”, chẳng hạn những người bị mất nhà cửa oan ức, những người mua trái phiếu của SCB, những người bị ô nhiễm vì sống gần bãi rác Nam Sơn, công nhân đình công đòi tăng lương, cải thiện môi trường làm việc. Chính quyền chỉ ngăn cản những người tụ tập/biểu tình nhân danh “lợi ích không trực tiếp”, ví dụ: đấu tranh chống Trung Quốc, chống ô nhiễm Formosa, chống chặt cây, bảo vệ môi trường Tam Đảo, chống luật Đặc Khu, luật An Ninh Mạng…hoặc những người kích động người khác tụ tập đấu tranh. Trong vụ Đồng Tâm, ban đầu người dân đấu tranh vì lợi ích trực tiếp (giữ đất đai mà họ cho là của họ). Nhưng sau đó họ đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng khi bắt giữ 38 cán bộ, chiến sĩ công an. Hai năm sau, họ nghe kẻ xấu kích động nên vi phạm nghiêm trọng hơn: lập làng kháng chiến, tích trữ vũ khí thô sơ để tấn công công an.

7. Trước nay, nhiều tờ báo của công an đã cảnh báo thanh niên không tham gia các khoá học ngắn hạn đào tạo về dân chủ hoá, tự do hoá, nhân quyền, xã hội dân sự…do các nhóm chính trị hải ngoại tổ chức. Giảng viên các khoá học đó là những người hoạt động chính trị, hoạt động nhân quyền, thậm chí những người có thù oán với chế độ. Các khoá học đó không trang bị kiến thức cho học viên về lý thuyết tổ chức và quản trị nhà nước mà chỉ nhồi sọ học viên rằng “dân chủ là quan trọng nhất”, “độc tài luôn xấu xa”, “xã hội dân sự luôn tốt đẹp và cần thiết”, và những hiểu biết méo mó về nhân quyền. Họ hướng dẫn học viên tiến hành các hoạt động đòi tự do, xây dựng xã hội dân sự, đấu tranh nhân quyền, ca ngợi những nhân vật gây bạo loạn nổi tiếng thế giới, và hứa hẹn tài trợ để học viên thực hiện những điều đó sau khi trở về. Hầu hết các khoá học đó tổ chức ở các nước gần VN (v.d., Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Đài Loan) chứ không phải ở Mỹ. Lý do là để đỡ tốn kém vé máy bay, không cần visa hoặc xin visa dễ dàng. Đối tượng tham gia những khoá học đó là những người hứng thú với chính trị đối lập, xã hội dân sự.

8. Trong khi đó, các khoá học do học bổng Fulbright tài trợ và các khoá học của đại học Fulbright là các khoá bậc đại học, cao học, tiến sĩ, tu nghiệp ngắn hạn về chuyên môn khoa học, công nghệ, quản lý, xã hội. Các khoá học đó giống như tất cả các khoá học nghiêm túc khác ở phương tây. Học bổng Fulbright chỉ cung cấp tiền. Người được học bổng phải tự tìm các khoá học ở Mỹ, nơi họ sẽ cùng học với sinh viên Mỹ, và sinh viên nhiều quốc gia khác. Hầu hết các giảng viên là các nhà khoa học chứ không phải là những người hoạt động chính trị/nhân quyền. Họ dạy đầy đủ về lý thuyết, hướng dẫn sinh viên tự nghiên cứu tài liệu, tư duy đa chiều. Chính nhờ vậy sinh viên có hiểu biết sâu, toàn diện về một chuyên môn nào đó, và có khả năng tự nghiên cứu. Học viên là những người quan tâm đến chuyên môn đó chứ không phải những người quan tâm đến chính trị đối lập. Các khoá học của đại học Fulbright ở VN đều được Bộ Giáo dục VN kiểm duyệt.

9. Trên thực tế, hầu hết những người chống chế độ hăng hái nhất ở VN là những người không được đào tạo ở phương tây. Họ không hiểu gì mấy về phương tây cho nên dễ hoang tưởng về sự vô thiên vô pháp và tự do ở các xứ đó. Chỉ một tỷ lệ rất nhỏ những người được đào tạo ở phương tây trở thành bất đồng chính kiến, nhưng nay đã bỏ gần hết. (Những người chưa từ bỏ là do đã từng đi tù. Lao tù là một trải nghiệm khốc liệt biến họ trở nên oán hận chế độ và không quên được). Nếu tôi không nhầm, chỉ có 1 người từng nhận học bổng Fulbright trở thành bất đồng chính kiến (trên tổng số hàng nghìn người). Ngược lại, có người đã hoạt động đối lập hàng chục năm nhưng từ khi tốt nghiệp cao học ở ĐH Fulbright đến nay không còn quan tâm đến chính trị nữa. Những người học ở phương tây trở thành bất mãn chế độ là do thường xuyên đọc các trang lề trái, tiếp xúc với những người bất mãn, thù hận, và giới chính trị hải ngoại, trong khi hiểu biết chính trị còn non yếu, chứ không phải vì họ theo học các khoá học đại học, cao học ở phương tây.

10. Một số người tuyên truyền ông Yunus, người được tổng thống Banladesh chỉ định làm tân lãnh đạo tạm quyền Bangladesh là được Mỹ “nuôi” để làm cách mạng mầu. Lý do là ông từng theo học tiến sĩ kinh tế ở Mỹ bằng học bổng Fulbright, và nhận huân chương của tổng thống Obama. Trên thực tế, ông Yunus là nhà kinh tế rất nổi tiếng thế giới, được giải Nobel Hoà bình vì sáng kiến xây dựng chuỗi ngân hàng để tài trợ tín dụng vi mô cho người nghèo. Sáng kiến của ông đã giúp cho hàng chục triệu người nghèo ở Bangladesh và nhiều nơi trên thế giới, bao gồm VN, thoát nghèo. Hầu như cả cuộc đời, ông chỉ hoạt động trong lĩnh vực kinh tế: là giáo sư đại học và phát triển chuỗi ngân hàng tín dụng vi mô. Bây giờ đã 84 tuổi mới được tổng thống chỉ định là lãnh đạo tạm quyền là do ông rất được lòng dân nghèo nhờ công sức xoá đói giảm nghèo. Nói rằng Mỹ “nuôi” một ông già 84 tuổi để làm đảo chính thì hơi quá đáng, dù có thể ông là người thân Mỹ.

11. Quý vị chỉ nên cảnh giác với những khoá học mà nhiều tờ báo chính thức của công an cảnh báo. Tôi nghĩ ngành công an đã nghiên cứu kỹ lưỡng và tuân theo chủ trương của chính phủ để thông báo những gì có nguy cơ cho an ninh quốc gia.

 

III. CHỐNG DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH NHƯ THẾ NÀO

12. Hiện nay, đảng cộng sản VN chủ trương không để cho bất kỳ mầm mống đảng phái/tổ chức/nhóm chính trị đối lập, tổ chức xã hội dân sự độc lập nào tồn tại. Từ 2017 đến nay, đảng có chủ trương cấm đảng viên đòi hỏi “đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, xã hội dân sự”, nghĩa là chặt đứt mọi nỗ lực nhằm thành lập nhóm diễn biến hoà bình trong đảng, đặc biệt là trong giới lãnh đạo cao cấp. Thế nên nguy cơ cách mạng mầu ở VN hiện nay gần như không có.

Những cuộc đảo chính hoặc bạo loạn nghiêm trọng thường xảy ra khi có mâu thuẫn xã hội rất lớn, hoặc thảm hoạ, thất bại lớn. Đảo chính xảy ra ở Bangladesh trước tiên là vì quốc gia đó cho phép đảng phái/hội nhóm đối lập tự do hoạt động. Cộng thêm chính sách ưu tiên gây mâu thuẫn lớn trong xã hội và chính quyền không xử lý khéo léo (những người biểu tình yêu cầu chính quyền xin lỗi nhưng họ không chịu xin lỗi khi gần 20 sinh viên thiệt mạng do bị cảnh sát bắt chết khi biểu tình). Chính vì vậy, các đảng phái, hội nhóm đối lập tranh thủ kích động đảo chính. VN hiện nay đủ sức chống đỡ những nguy cơ thiên tai, địch hoạ để giữ vững chế độ. Chính quyền cũng đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm để tháo van mâu thuẫn, bức xúc xã hội.

13. Tuy nhiên, điều quan trọng là thuyết phục được người dân tin tưởng ở các chủ trương, đường lối của đảng. Tỷ lệ người sùng bái Mỹ và phương tây ở VN hiện nay rất lớn. Thế nên rất cần những người được đào tạo ở phương tây tham gia xây dựng hệ thống lý luận chính trị, giáo dục, tuyên truyền. Những người ít kinh nghiệm, đặc biệt là không được đào tạo bài bản về các lĩnh vực liên quan đến chính trị ở phương tây, khó có thể đảm nhiệm công việc đó. Trong thời gian tới, chính phủ cần bổ sung đội ngũ cộng tác viên am hiểu về phương tây để hỗ trợ giáo dục, tuyên truyền chính trị. Đặc biệt, 95% dân số là ngoài đảng. Chính vì vậy rất cần bổ sung một đội ngũ cộng tác viên ngoài đảng, bởi vì họ hiểu rõ cách tư duy của những người ngoài đảng. Cần sự hợp tác giữa các chuyên gia am hiểu về phương đông và phương tây, trong và ngoài đảng, trong công tác giáo dục và tuyên truyền chính trị.

14. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến Liên Xô sụp đổ là đã không học hỏi kinh nghiệm kinh tế thị trường của phương tây từ sớm, dẫn đến kinh tế sụp đổ trong thập kỷ 1980s. Ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã có tư tưởng mở cửa với phương tây, sẵn sàn áp dụng kinh tế thị trường từ đầu thập kỷ 1960s. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông do bảo thủ, giáo điều đã cản trở những điều này dẫn đến thảm hoạ cả kinh tế lẫn chính trị. Mãi đến 1978, sau khi Mao chết, Đặng Tiểu Bình mới có cơ hội tiến hành những ý tưởng của ông ta, đưa Trung Quốc vào thời kỳ phát triển rực rỡ. VN đã học hỏi rất nhiều kinh nghiệm của phương tây trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, lĩnh vực lý luận chính trị, văn hoá, văn minh vẫn còn khá yếu, và có nguy cơ tụt hậu. Đó cũng là lý do khiến cho một bộ phận khá đông trí thức thiếu tin tưởng vào chủ trương, đường lối của đảng.

15. Việt Nam cần học hỏi phương tây về khoa học và văn minh. Rất cần khuyến khích học bổng Fulbright, các khoá học của đại học Fulbright, cũng như các khoá học chính quy khác ở các nước phát triển. Chỉ cần giáo dục người dân phân biệt giới khoa học với giới chính trị gia, giới hoạt động chính trị, hoạt động nhân quyền. (Các nhà khoa học tham gia hoạt động chính trị/nhân quyền thì cũng cần coi là nhà hoạt động chính trị/nhân quyền). Cần khuyến khích người dân theo học những khoá học chuyên môn nghiêm túc, tránh những khoá đào tạo ngắn hạn do giới hoạt động chính trị, hoạt động nhân quyền tổ chức.

16. Cuối cùng, vẫn cần phải cân đối hài hoà giữa tự do và an ninh quốc gia. Cần nghiên cứu để tiếp tục mở rộng các quyền dân chủ và tự do cho người dân. Bởi lẽ cương lĩnh của đảng đề ra mục tiêu phát triển của nước ta cũng bao gồm dân chủ: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

 

Vì sao có thể tin rằng sư Thích Chân Quang đã tự làm luận án tiến sĩ

 https://docs.google.com/document/d/1metCLZeLoJ0UmVLGO_CuwzUsNouN7LCo/edit

CHỈ 8% HỌC SINH CUỐI CẤP TRUNG HỌC Ở Mỹ BIẾT RẰNG CHẾ ĐỘ NÔ LỆ LÀ NGUYÊN NHÂN CHÍNH DẪN ĐẾN NỘI CHIẾN

Tôi vừa đọc được một bài phê phán tự do học thuật ở VN. Trong đó ông giáo sư Doyle Srader của Mỹ và bà tiến sĩ VTPA cho rằng Luật Giáo dục Đại học năm 2018 của VN quy định giảng viên được phép “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên nguyên tắc phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội” là sai trái. Họ cho rằng giảng viên cần được tự do thích dạy gì thì dạy. Bà VTPA nói rằng con gái bà được tự do, tranh luận, phản biệt về lịch sử Mỹ. Trong khi đó “môn học này ở Việt Nam lại bị giới hạn góc nhìn theo quan điểm chính thống”.

Giống như mọi quốc gia trên thế giới, đa số người dân Mỹ học lịch sử ở bậc phổ thông. Chỉ một số ít người sẽ vào đại học/cao đẳng. Hơn nữa, thông thường chỉ có sinh viên một số ngành (không phải tất cả các ngành) Khoa học Xã hội và Nhân văn phải học môn lịch sử. Sinh viên các ngành Khoa học tự nhiên, kỹ thuật thường không phải học. (Trừ ở các trường Liberal Art, một số sinh viên tự nhiên, kỹ thuật có thể lựa chọn môn này, nhưng không bắt buộc).

Bà VTPA có biết ở Mỹ, họ dạy lịch sử cho học sinh thế nào không? Theo một nghiên cứu của Teaching Tolerance đăng trên trang của Hiệp hội Giáo dục Quốc Gia (NEA), "CHỈ 8% HỌC SINH CUỐI CẤP TRUNG HỌC Ở MỸ BIẾT RẰNG CHẾ ĐỘ NÔ LỆ LÀ NGUYÊN NHÂN CHÍNH CỦA NỘI CHIẾN". Gần 50% học sinh cho rằng “phản đối thuế với hàng nhập khẩu” là nguyên nhân chính gây ra Nội chiến. 2/3 số học sinh không biết rằng cần phải sửa đổi hiến pháp để chấm dứt chế độ nô lệ [1].

Điều chắc chắn, không phải học sinh Mỹ quá dốt cho nên không thuộc lịch sử, mà đó là do định hướng giảng dạy của chính quyền. Teaching Tolerance cũng điều tra 1.700 giáo viên về thái độ của họ đối với việc dạy học về Chế độ Nô lệ. 97% giáo viên đồng ý rằng việc học về chế độ nô lệ là điều cần thiết để hiểu lịch sử Mỹ. Tuy nhiên, 40% giáo viên nói rằng bang của họ không hỗ trợ đầy đủ cho việc giảng dạy về Chế độ Nô lệ và 58% nói rằng sách giáo khoa của họ không trình bày đầy đủ về vấn đề này. Và một tỷ lệ lớn giáo viên cũng ngại dạy về phân biệt chủng tộc [1].

Cũng giống như VN, đa số học sinh Mỹ học ở trường công lập (91%)[2]. Nhưng trường công lập được bang tài trợ. Thế nên giáo viên phải dạy cho học sinh chương trình do bang quy định (nếu không thì họ cắt tài trợ. Nhưng tình hình là giáo viên phát biểu như vậy.

Mỹ cũng không dạy lịch sử độc lập với quan điểm chính trị chính thống đâu, thưa bà.

[1]https://www.nea.org/nea-today/all-news-articles/us-students-disturbing-lack-knowledge-about-slavery
[2]https://www.usnews.com/education/k12/articles/private-school-vs-public-school

Phát triển công nghiệp bán dẫn như thế nào

Đấy là vấn đề chuyên môn sâu, phải nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu dự báo, lập dự án tiền khả thi. Không phải là chuyện để ngồi chém gió linh tinh. GDP Hàn Quốc 1700 tỷ USD, gấp 4 lần VN. GDP/capita thì gấp 8 lần VN, nghĩa là họ có khả năng trả lương trung bình cho kỹ sư cao gấp 8 lần VN. Họ đầu tư 7 tỷ USD cho công nghệ bán dẫn. Nên nhớ Hàn Quốc là nước nhập khẩu chất xám. Họ còn đào tạo khá nhiều kỹ sư, giáo sư, tiến sỹ công nghệ cho VN. Họ thu hút được khá nhiều người Việt và các quốc gia khác ở lại làm việc. Họ đã có bề dày kinh nghiệm phát triển công nghệ cao, có đội ngũ kỹ sư bán dẫn đông đáng kể. Các tập đoàn Hàn Quốc như Samsung, Hyungdai, SK, LG làm cho cả thế giới khiếp vía. 

VN cũng muốn đầu tư 7 tỷ USD như Hàn Quốc, trong khi bắt đầu từ con số 0??? Hiện giờ VN là nước xuất khẩu chất xám. Chính phủ định đào tạo 50,000 kỹ sư bán dẫn. Công nghệ bán dẫn là công nghệ cao. Thế nên trên thực tế sẽ chỉ có khoảng 40-50% có khả năng đảm nhận công việc xứng với tấm bằng đó thôi. Đấy là chưa kể hiện giờ các nước phát triển đều khan hiếm tài năng bán dẫn. Họ sẽ tìm đủ mọi cách để thu hút chuyên gia khá, giỏi người Việt sang nước họ làm việc. Thế nên trên thực tế, cuối cùng sẽ chỉ còn khoảng 10-12,000 kỹ sư thực sự tham gia vào lĩnh vực bán dẫn ở VN thôi.

Muốn làm gì thành công cũng phải có TIỀN và NHÂN TÀI. Hiện giờ đầu tư nước ngoài vào ngành bán dẫn vẫn còn khiêm tốn. Hi vọng thời gian tới khá hơn. Lâu nay, tôi chỉ nghe nói chuyện đào tạo kỹ sư bán dẫn. Nhưng theo tôi, làm thế nào để giữ chân được chuyên gia khá giỏi người Việt và người nước ngoài đến VN làm việc mới là vấn đề đau đầu nhất. Mỗi trung tâm R&D chỉ cần mất đi 3-4 người giỏi nhất thì coi như tan rã.

Giả dụ một công ty Mỹ đầu tư vào sản xuất bán dẫn ở VN. Họ sẽ điều những kỹ sư khá giỏi sang Mỹ công tác. Đầu tiên là những chuyến công tác ngắn hạn. Rồi đến trung hạn, vài tháng. Rồi họ gợi ý cho con cái sang Mỹ học. Vợ/chồng cũng sẽ được bố trí phụ cấp hoặc tạo điều kiện cho sang học. Người kỹ sư đó sẽ muốn sang theo vừa chăm con, vừa có cơ hội làm việc ở chi nhánh ở Mỹ. Hoặc họ bố trí cho sang Mỹ học cao học. Làm việc ở Mỹ vừa được trả lương cao hơn rất nhiều, môi trường làm việc hiện đại, đồng nghiệp giỏi giang. Gia đình được lợi đủ đường. Thế là xong.

Không nói sang Mỹ xa xôi, mấy nước gần gần đây như Úc, Sing, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc trả lương cho kỹ sư Việt khá giỏi cao gấp 3-8 lần để họ sang đó làm việc, thì liệu họ có chống đỡ nổi sức cám dỗ hay không???

Mấy năm rồi, VN cũng ồn ào việc phát triển AI. Nhưng thực tế rất lem nhem, manh mún, cũng vì nhân tài chạy ra nước ngoài quá nhiều, trong khi chiều chạy về nước làm việc khá ít. Dĩ nhiên, công nghệ bán dẫn có triển vọng sẽ được đầu tư nhiều hơn. Chính phủ cũng quyết tâm hơn. Nhưng dù sao, bán dẫn vẫn là công nghệ cao. Chuỗi giá trị bán dẫn có nhiều phân khúc. Ở thời điểm này, tôi nghĩ, chúng ta chỉ có thể mơ mộng sẽ tham gia ở phân khúc khá hơn gia công thôi. Tôi không thấy có cơ sở nào để mơ mộng phân khúc làm R&D lõi cả. Muốn làm lõi thì phải có nhiều thạc sĩ, tiến sĩ. Trong khi đến giờ chúng ta mới chỉ đang bàn chuyện đào tạo kỹ sư.

Nói vắn tắt, trước tiên phải nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu dự báo, nghiên cứu tiền khả thi một cách bài bản. Cần mời các chuyên gia kinh tế trong nước phối hợp với các chuyên gia công nghệ (cả trong và ngoài nước) lập các đề án. Tôi nhấn mạnh là mời chuyên gia định lượng giỏi về kinh tế ở trong nước. Nhiều đồng nghiệp của tôi đủ năng lực để làm việc này. (Không nhất thiết họ phải có kinh nghiệm về nghiên cứu phát triển công nghiệp bán dẫn trước đó. Chỉ cần họ có kỹ thuật định lượng tốt là được). Chuyên gia kinh tế ở nước ngoài không hiểu gì mấy về môi trường VN, không làm được. Ở mọi nơi trên thế giới, nghiên cứu để phát triển một ngành khoa học công nghệ luôn là công việc của ngành kinh tế. Cũng có thể cần phải làm thứ giống như Made in Vietnam riêng cho ngành bán dẫn. Cái này đội kinh tế Việt làm vài tháng là xong, miễn là có đề án.

Mấy tháng nay, tôi đọc bài các ông chuyên gia công nghệ bán dẫn chém giời, chém biển, rất buồn cười. Tôi nhấn mạnh là mọi cuộc họp hành, lập kế hoạch cho ngành bán dẫn bắt buộc phải mời chuyên gia kinh tế. Và phải mời chuyên gia giỏi kỹ thuật định lượng thực sự và có đôi chút kinh nghiệm cố vấn chính sách là được. Phải thành lập một đội chuyên gia kinh tế phục vụ phát triển công nghiệp bán dẫn. Chuyên gia kinh tế tham gia không phải chỉ để hoạch định tài chính mà là xây dựng bức tranh tổng thể, và vạch ra đường đi nước bước, để phát triển ngành bán dẫn VN.

Chống tham nhũng và bảo vệ các lãnh đạo tài năng

Chống tham nhũng là việc rất khó đối với các nước đang phát triển như VN. Xếp hạng Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng năm 2023 của VN là 83, không cao nhưng cũng không quá thấp, hơn khá nhiều nước phát triển hơn VN. Ngay cả ở Mỹ, các tổng thống như Biden, Trump cũng liên tục bị điều tra các cáo buộc tham nhũng, chủ yếu là những nghi vấn con cái của họ kiếm lời bất chính dựa trên ảnh hưởng của bố. Cho dù các luật sư cãi cho họ trắng án thì cũng chẳng ai tin là hoàn toàn không có những chuyện đó.

VN vẫn phải tiếp tục chống tham nhũng, nhưng cũng cần giữ những lãnh đạo tài năng. Tài năng lãnh đạo ở đây có thể theo nghĩa quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, có nhiều sáng kiến, thành tích tốt trong quản lý, thu hút đầu tư, thu hút nhân tài v.v…Tham nhũng và Người tài là hai vấn đề khác nhau. Một lãnh đạo có thể tham nhũng tương đối nặng nhưng lại là người rất có tài. Tôi nghĩ rằng phải song song kết hợp: vừa chống tham nhũng vừa bảo vệ tài năng.

Ví dụ, đối với những lãnh đạo có tài nhưng có biểu hiện tham nhũng, TW nên kéo dài thời gian điều tra họ cho đến hết nhiệm kỳ. Đồng thời, có thể áp dụng các biện pháp đặc biệt như đóng băng một số tài sản của họ, hạn chế, thậm chí cấm đi nước ngoài, hoặc nếu họ vẫn cần ra nước ngoài công tác thời gian ngắn thì cần có lực lượng an ninh giám sát chặt chẽ, để tránh hiện tượng bỏ trốn. Trong suốt thời gian công tác, thỉnh thoảng họ sẽ phải giải trình trước Ban kiểm tra TW, Quốc hội và/hoặc Cục điều tra của Bộ công an. Đối với những lãnh đạo có tài năng đặc biệt theo nghĩa khó kiếm người thay thế, thậm chí vẫn tiếp tục để họ làm lãnh đạo cho đến khi nghỉ hưu. Sau khi họ hết nhiệm kỳ hoặc nghỉ hưu, mới chính thức khởi tố/hoặc có những quyết định cuối cùng. Quyết định cuối cùng đó cũng sẽ tính đến những công lao, thành tích của họ đạt được kể từ khi bắt đầu bị nghi vấn. Họ có thể “lập công chuộc tội” đến mức được xử trắng án, trong khi nhà nước vẫn thu hồi được tài sản tham nhũng.

Trong thời gian họ tiếp tục công tác, TW có thể công bố một số mức cảnh báo công khai, ví dụ: (i) Người này đang bị nhiều tố cáo và các cơ quan chức năng đang điều tra; (ii) Người này đã có một số nghi vấn có những vi phạm nghiêm trọng về quản lý; (iii) Người này đã bị xếp vào diện theo dõi đặc biệt. Với những mức cảnh báo công khai như vậy, tôi tin rằng các cá nhân, tổ chức muốn câu kết với họ để tham nhũng cũng sẽ ngần ngại.

Còn đối với những người không có tài gì lắm, dễ dàng kiếm người thay thế thì có thể xử lý ngay.

Ngoài ra, vẫn phải tăng thu nhập cho lãnh đạo. Các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ cần tự lập kế hoạch mức thu nhập bổ sung cho các cấp lãnh đạo (kể cả lãnh đạo các cơ quan hành chính), lấy từ nguồn lợi nhuận kiếm được. Ngoài ra, quỹ lương của ngân sách cũng phải điều chỉnh tăng thêm cho các cấp lãnh đạo từ vụ phó trở lên gấp 3-4 lần hiện nay.

Nhiều người thắc mắc tại sao VN không thể tăng lương thật cao cho công chức như Singapore. Trên thực tế, trên thế giới chỉ có mỗi Singapore làm được như vậy có thể do quy mô dân số rất bé (chỉ 6 triệu dân), nghĩa là bằng 1/2 dân số Hà Nội. Singapore là nước công nghiệp phát triển, 100% đô thị hoá. Chỉ cần 1, 2 ngành công nghiệp là đủ nuôi cả nước. Với quy mô dân số quá bé, thủ tướng có thể đi sâu đi sát công việc đến từng phường. Và họ cũng chỉ thực hiện chính sách lương đó khi thu nhập trung bình (GDP/capita) đã tương đối cao.

Một số người khác thắc mắc, ngay cả trả lương 200-300 triệu/tháng cho các quan chức thì cũng không so sánh được với thu nhập kiếm được từ tham nhũng. Đúng vậy, nhưng Singapore cũng không thể trả lương cực cao cho mọi quan chức. Mức lương cao nhất của thủ tướng Lý Hiển Long là 1.6 triệu $/năm, vẫn chẳng so sánh với thu nhập nếu ông ấy tham nhũng. Nhưng phải trả lương tốt thì mới có cơ sở để chống tham nhũng mạnh tay.

Thật ra, vấn đề nghiêm trọng nhất của VN là chảy máu chất xám trầm trọng sang phương tây. Thế nên giữ được lãnh đạo tài năng lại càng trở thành trở thành yêu cầu cấp bách.

 

THAM NHŨNG VÀ TỰ DIỄN BIẾN LÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC NHAU

Nhiều người tham nhũng nặng nhưng vẫn cho rằng đường lối chính trị của đảng là đúng đắn. Trong khi đó, có thể có những người không tham nhũng gì mấy nhưng lại tự diễn biến, tự chuyển hoá. Từ khi có quy định 102 QĐ/TW-2017, nguy cơ mất chế độ không còn là nguy cơ lớn nữa.

Có bạn cãi rằng không có chuyện các UVTW có chế độ giám sát, theo dõi lẫn nhau. Ngay cả như vậy đi nữa thì từ khi có quy định này các chủ đề “Chủ nghĩa xã hội”, “Chủ nghĩa Marx-Lenin”, “Đa nguyên đa đảng”, “Tam quyền phân lập”, “Xã hội Dân sự” đều trở thành các chủ đề cấm kị. Sở dĩ Liên Xô sụp đổ là do các chủ đề đó ở Liên Xô thời 1990 không phải là chủ đề cấm kỵ. Các đảng viên thoải mái tụ tập, bàn bạc, thậm chí hội thảo, đăng báo. Chính vì vậy nhóm người muốn trở cờ dễ dàng tìm được đồng minh để cài cắm nhau vào các vị trí lãnh đạo và tấn công chế độ trên quy mô lớn. Ở VN hiện nay, hầu như không còn cơ hội đó nữa.

Vừa rồi có nhiều tranh cãi gay gắt về những vụ “lật sử”. Thật ra khái niệm “lật sử” của mỗi người, mỗi khác. Bới lông tìm vết quá mức thì sẽ dẫn đến vùi dập người tài, hạn chế tự do của công dân. Cương lĩnh của Đảng hiện vẫn chủ trương “Xây dựng xã hội thịnh vượng, dân chủ, công bằng, và văn minh”. Chữ dân chủ đó không hàm nghĩa dân chủ kiểu phương tây nhưng vẫn cần tiếp tục nới rộng tự do cho người dân. Đương nhiên, nới rộng đến đâu là vừa thì còn nhiều tranh cãi bởi cần đảm bảo quyền tự do của người dân, ổn định xã hội, và giảm thiểu bất mãn, chống đối. Trên thực tế, từ 2005 đến nay, người dân được tự do phát biểu nhiều vấn đề nhạy cảm hơn trước đó thì mức độ chống đối giảm hẳn. Chất lượng trung bình của cộng đồng “đấu tranh dân chủ” sụt giảm thê thảm so với các thế hệ trước.

Nói tóm lại, tôi cho rằng VN hiện nay cần tập trung bảo vệ các lãnh đạo có tài. Chống tham nhũng là ưu tiên số 2. Tự diễn biến, tự chuyển hoá đương nhiên cũng quan trọng nhưng cần phải có những cách tiếp cận khác. Tôi sẽ nói thêm về những vấn đề này trong các bài khác.

 

Chống diễn biến hoà bình: đừng quá lo lắng về một "Gorbachov Việt Nam"

(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Gần đây có nhiều đảng viên lo lắng về công tác cán bộ. Họ lo rằng một lúc nào đó VN sẽ sụp đổ như Liên Xô bởi có những kẻ tự diễn biến chui vào các vị trí lãnh đạo cao nhất như Gorbachov. Họ đã quá lo lắng, không cần thiết. 

+ Thời Liên Xô sụp đổ là do khủng hoảng về đường lối. Kinh tế xuống đáy và kiệt quệ. Thế nên ở các nước đều có nhiều nhân vật hoảng loạn và cho rằng cần phải đổi mới kinh tế đồng thời với chính trị. (Liên Xô có Gorbachov, Enxin. Trung Quốc có Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương. VN có Trần Xuân Bách, và có thể Nguyễn Hà Phan nữa). Trong khi đó, TQ mới bắt đầu chủ trương chỉ đổi mới kinh tế, giữ nguyên chính trị. Kết quả còn mung lung, chưa rõ ràng. Thế nhưng hiện nay, đường lối của TQ, VN đã chứng tỏ hiệu quả khá rõ. GDP của TQ dự kiến sẽ vượt Mỹ trong 10 năm tới. Nghĩa là đường lối đang ngon thì chẳng ai điên gì thay đổi.

+ Thật ra không có lý do để lo lắng thái quá. Theo thống kê của Economic Intelligence Unit, hiện giờ trên thế giới chỉ có chưa đến 50% các quốc gia/vùng lãnh thổ là dân chủ, dân chủ khiếm khuyết. Nghĩa là các quốc gia độc tài chiếm đa số. Kinh tế thị trường đã phổ biến ở khắp nơi. Nghĩa là đa số các quốc gia lắp cái đầu chính trị độc tài vào cái đuôi kinh tế thị trường. VN cũng chỉ là một dạng độc tài thôi. Mô hình của VN nằm trong đa số quốc gia/vùng lãnh thổ trên thế giới.

+ Nhưng quan trọng hơn cả, từ 2017, TW Đảng đã ban hành Quy định 102-QĐ/TW 2017, trong đó cấm đảng viên đòi hỏi “đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, xã hội dân sự”. Ai không đồng ý thì phải ra khỏi đảng. Sẽ không còn hiện tượng một nhóm đảng viên đòi đa nguyên đa đảng nữa. Không những vậy, các cụ đều biết nếu chỉ có 1 người thì chẳng làm được trò trống gì. Luôn luôn phải có 1 nhóm thì mới làm nên chuyện gì đó. Nhưng nếu cụ TW nào “chệch hướng” muốn trao đổi với ai đó để kéo bè cánh trở cờ thì sẽ bị túm cổ ngay và mất chức. Ngoài ra, VN lại là nước duy nhất trong số các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản không nhất thể hoá (ví dụ ghép TBT+CTN, hoặc TBT+TT), để phân tán quyền lực. Nghe nói, đây chính là cái khoá thứ hai để ngăn chặn tập trung quá nhiều quyền vào một người, nghĩa là ngăn chặn một Gorbachov xuất hiện ở VN. Với cơ chế như vậy, một con ruồi cũng không lọt, tôi không hiểu các cụ còn lo lắng điều gì nữa???

Dĩ nhiên, không ai có thể biết chắc các UVTW, UVBCT thực sự suy nghĩ gì. Liệu có cụ nào “xanh vỏ đỏ lòng”, nhưng chưa bộc lộ chính kiến hay không? Tại sao đến tận 2012 vẫn có vụ 72 người, trong đó có cả cựu bộ trưởng tư pháp, đại biểu quốc hội đòi bỏ Điều 4 Hiến Pháp. Dù sao đi nữa, khiến họ tâm phục, khẩu phục vẫn tốt hơn là để họ miễn cưỡng tuân theo quy định, dù trong thâm tâm không đồng tình.

Tuy nhiên, thời điểm tôi dính dáng đến lề trái, tôi đã đọc rất nhiều và nhận thấy các lý luận chống diễn biến hoà bình trên báo chí, mạng xã hội đều không đủ thuyết phục.

Ví dụ, nhiều đảng viên thường lập luận: “Những người trở cờ thật đáng ghê tởm bởi vì phản bội lý tưởng”. “Đó là những kẻ được hưởng nhiều bổng lộc của chế độ vậy mà ăn cháo đái bát”. Họ phân tích nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Hình như họ quên rằng 95% người Việt không phải là đảng viên. Họ có vẻ như cũng không biết rằng, những người “tự diễn biến”, nghĩa là không còn thiết tha gì với đảng nữa, sẽ tư duy giống như những người ngoài đảng. Sự tồn vong của đảng không phải là mối bận tâm của họ, miễn sao đất nước phát triển. Chính vì vậy, các đảng viên trung thành cần đưa ra những bằng chứng, chứng minh hành vi của những người trở cờ gây hại cho quốc gia, dân tộc thế nào, chứ không chỉ gây hại cho đảng thế nào. Liên Xô sụp đổ thì có gì hại cho dân tộc thế nào.

Gần đây, có vẻ như an ninh đã thấu hiểu điều này. Hoặc họ đã học được kinh nghiệm của nước nào đó. Đã xuất hiện một số cá nhân và nhóm đổi mới cách làm, đăng nhiều bài viết, video giải thích, so sánh quốc tế khá gần gũi với tư duy của những người ngoài đảng. Đấy là điều rất tốt đối với dân, nhưng vẫn chưa đủ.

 

MUỐN ĐỐI PHÓ VỚI PHƯƠNG TÂY THÌ PHẢI RẤT HIỂU PHƯƠNG TÂY

Những biện pháp trên vẫn là chưa đủ để thuyết phục các cụ có chức quyền. Một cựu bộ trưởng tư pháp, một phó chủ nhiệm uỷ ban quốc hội, một giáo sư xã hội học và một tiến sĩ kinh tế đã từng cố vấn cho chính phủ, tất thảy họ đều tự tin đầy mình. Đấy là chưa kể, họ nhận được vô số sự tâng bốc của giới “trí thức cấp tiến” cả trong và ngoài nước. Cũng không thể nói những người đó hoàn toàn không biết gì về quản trị nhà nước. (Thật ra, tôi tin rằng trong nhóm 72 đó chắc chắn có một số người do đảng “phân công tham gia”, bởi xưa nay ở VN luôn có chủ trương “đề phòng từ sớm, từ xa, không để bị động, bị bất ngờ”. thế nên tôi không có ý định phê phán cụ thể cá nhân nào).

Vấn đề của họ là ở chỗ:

+ Quá tự tin vào hiểu biết của bản thân. Ví dụ, họ quên mất rằng họ không phải là UVBCT, thậm chí UVTW. Các vấn đề hệ trọng về đường lối đều do BCT bàn bạc, quyết định. Trong đó, BCT được sự cố vấn của rất nhiều chuyên gia của nhiều ngành khác nhau. (Chính trị là công việc thực hành. Các bí thư, chủ tịch tỉnh mới là những người am hiểu nhiều nhất, bởi lẽ tỉnh chỉ là đơn vị thu nhỏ quốc gia. Thế nhưng bao nhiêu năm nay chưa bao giờ có bí thư, chủ tịch tỉnh nào trở thành bất đồng chính kiến.) Những người nhóm 72 quên mất rằng họ đâu có ở vị thế UVBCT để có cái nhìn toàn diện về vấn đề.

+ Không biết gì về phương tây dẫn đến sùng bái phương tây một cách mù quáng: Trừ vài ông Việt kiều, tất cả các cụ còn lại trong nhóm 72 đều không được đào tạo ở phương tây. Không biết gì về giới khoa học phương tây mà họ chỉ suốt ngày giao lưu với giới chính trị (các chính trị gia, giới hoạt động chính trị, hoạt động nhân quyền), và bị bọn này nhồi sọ tư tưởng sùng bái dân chủ. Họ cũng chẳng biết gì về văn minh phương tây.

+ Cuối cùng, hầu hết họ không biết rằng “khoa học xã hội có biên giới”. Chỉ những người là chuyên gia về quản trị nhà nước, sống lâu dài ở VN và thường xuyên có cơ hội được trao đổi thường xuyên với các chuyên gia khác ở VN về chính trị VN thì mới đủ trình độ để cố vấn chính trị. Thế nên giới khoa học phương tây chuyên về quản trị nhà nước cũng phát biểu về chính trị VN rất ngô nghê. Ý kiến của họ chỉ để tham khảo, và họ chỉ được mời đến cố vấn về một vấn đề rất nhỏ, thuộc chuyên ngành rất hẹp của họ. Họ không đủ trình để phán xét về đường lối chính trị của VN. Chưa nói đến, có thể có những nhà khoa học hải ngoại phát biển thuần tuý phục vụ lợi ích nước họ, hoặc vì thù hận hẹp hòi. Không đảng nào cho người ngoài đảng, nhất là người nước ngoài tham dự vào các cuộc họp quan trọng về đường lối lớn của quốc gia.

Làm thế nào để “rất hiểu phương tây” là một chủ đề lớn, tôi sẽ viết trong một bài khác.

 

Lật sử và chủ nghĩa lý lịch

(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Vừa rồi tôi đã đọc khá nhiều bài viết của các cựu chiến binh, đảng viên cốt cán trên mạng. Theo đó, tôi có cảm giác ông T mất chức có một nguyên nhân quan trọng là chống diễn biến hoà bình không hiệu quả, để cho hiện tượng lật sử tràn lan trong xã hội. Có nhiều cụ đòi khôi phục từ “nguỵ quân”, “nguỵ quyền” trong tất cả các tài liệu chính thức và trên truyền thông đại chúng.

Tôi đồng ý với các cụ về các vụ như Nguyễn Ánh, Alexandre de Rodes, Bob Kerrey. Về Trương Vĩnh Ký, đây là một nhân vật có công lao nhất định nhưng đã nhiều lần mời quân Pháp xâm lược VN. Thế nên cũng không có lý do chính đáng để tôn vinh. Thật đáng tiếc bởi đã có những cuốn sách giáo khoa ca ngợi ông ta nhưng không hề nhắc đến tội lỗi của ông ta, khiến cho học sinh hiểu biết sai. Việc ông ta biết mấy chục ngoại ngữ có thật hay không, không có tài liệu nào kiểm chứng được. Quan trọng là am hiểu mỗi ngôn ngữ đến mức độ nào, chứ nếu biết vài trăm từ của một ngôn ngữ thì không thể tính là biết ngôn ngữ đó. Nên gỡ biển tên đường Alexandre de Rodes bởi nhân vật này có đóng góp công sức tạo ra bộ chữ quốc ngữ nhưng mục đích việc sáng tạo đó không tốt đẹp, chủ yếu là để truyền đạo và kêu gọi thánh chiến. Đấy là chưa kể các cố đạo thời đó bị nghi ngờ là làm gián điệp để cho phương tây xâm lược khi có cơ hội thuận lợi. Việc sáng tạo ra bộ chữ chỉ là công lao nhỏ. Việc truyền bá, thuyết phục người dân sử dụng chủ yếu là công lao của người Việt. Nếu vẫn muốn đề cao chữ quốc ngữ thì có thể đặt tên đường Quốc Ngữ để tri ân tất cả những người đã đóng góp phát triển và truyền bá chữ quốc ngữ. Các giáo sỹ Bồ Đào Nha cũng sáng tạo ra bộ chữ latin cho người Hàn, Nhật, Trung Quốc. Nhưng các dân tộc đó không chấp nhận thì cũng chỉ vứt đi. Thế nhưng hiện nay các nước đó sử dụng bộ chữ của riêng họ mà vẫn phát triển mạnh mẽ. Nếu tính công lao thì ngay cả các vua chúa Trung Hoa cũng để lại công lao trong văn hoá và chữ viết của người Việt. Người Việt đã sử dụng chữ hán hàng nghìn năm, 60-70% tiếng Việt ngày nay có gốc hán, chưa kể vô số phong tục, tập quán, văn hoá của người Việt học theo Trung Quốc từ thời kỳ 1000 năm bắc thuộc. Không lẽ chúng ta cũng phải tôn vinh những kẻ đó? Thế nên, đối với người nước ngoài, chỉ những người thực sự có đóng góp vì những mục đích tốt đẹp và hầu như không có tì vết chẳng hạn bác sỹ Yersin xứng đáng được tôn vinh.

Giáo dục lịch sử chủ yếu nhằm mục đích răn dạy công dân không lặp lại những sai lầm của tiền nhân. Thật ngạc nhiên vì có nhiều người, kể cả những người mang tiếng là giáo sư, nhưng lại phàn nàn rằng sử sách hiện nay vẫn lên án “Nguyễn Ánh bán nước”. Họ cho rằng hành vi của Nguyễn Ánh không trực tiếp dẫn đến mất mảnh đất nào. Trên thực tế, khái niệm “bán nước”, “cõng rắn cắn gà nhà” là những khái niệm quốc tế. Tiếng Anh cũng có khái niệm tương đương “set a fox to keep the geese”, chứ đâu phải là khái niệm của Việt Nam. Nguyễn Ánh mời quân Xiêm vào nhưng bị Quang Trung đánh tan là nhờ tài năng của Quang Trung. Việc ông ta mời quân Pháp xâm lược VN đã tạo điều kiện để thực dân Pháp có lý do chính thức để nhòm ngó VN, chuẩn bị lực lượng và tiến đánh một lúc nào đó thuận lợi. Trên thực tế, hành vi của ông ta đã tạo ra nguy cơ lớn cho quốc gia bị xâm lược, bởi vậy gọi là “bán nước” là hợp lý. Muốn bán nước nhưng không bán được, bán ế thì vẫn cứ là "bán nước", không thể gọi khác đi được. Thời kỳ Nguyễn Ánh nắm quyền, nhiều người phương tây thoải mái ra vào hoàng cung, thoải mái dò la, làm gián điệp. Đấy là sự bất cẩn, ngu muội của một nguyên thủ VN, các quốc gia Đông Á khác không hề có chuyện đó. 50 năm sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, năm 1858, Pháp bắt đầu tấn công VN. Vậy là công cuộc bán nước cũng đâu có ế lắm.

Việc lên án Trương Vĩnh Ký cũng vì lý do tương tự. Nếu cần nhắc đến ông ta trên báo chí thì cũng cần nhấn mạnh việc ông ta mời Pháp vào xâm lược. Trong bối cảnh toàn dân mù chữ thời bấy giờ, ông ta là người hiếm hoi được học hành, có ảnh hưởng lớn trong xã hội, mà lại có những hành vi như vậy, không lên án thì mới là lạ.

Ngoài ra, cần phân biệt hành vi của Nguyễn Ánh với hành vi của những người mời ngoại bang can thiệp khi quốc gia đang bị một ngoại bang khác xâm chiếm. Hành vi sau không gọi là “bán nước”, “cõng rắn cắn gà nhà”, mặc dù nhiều khi là sự ngây ngơ, “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Tướng Aung San, người được tôn vinh là Người Cha của Miến Điện, ban đầu cũng tham gia cùng quân Nhật đánh đuổi quân Anh. Nhưng sau đấy ông thất vọng, từ bỏ quân Nhật để thành lập lực lượng vũ trang riêng, tiền thân của quân đội Miến Điện sau này. Chính vì vậy cụ Phan Bội Châu không bị lên án nặng nề về chuyện muốn dựa vào người Nhật để đánh đuổi quân Pháp. Thế nhưng, khi quốc gia đang do người dân tộc mình nắm quyền mà lại mời ngoại bang hùng mạnh can thiệp thì thường là tội rất nặng, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt (chẳng hạn Hun Sen đã từng chạy sang nhờ VN giúp đỡ dân Campuchia thoát nạn diệt chủng hoặc nhiều người Đức kêu gọi đồng minh giúp đỡ tiêu diệt Phát xít. Bởi vì Phát xít, Khmer đỏ quá tàn ác, phạm tội diệt chủng hàng triệu người nhưng nhân dân các nước đó không có khả năng tiêu diệt chúng).

Một vấn đề nữa là cần phân biệt rõ một người ban đầu chạy theo ngoại bang nhưng sau đó giác ngộ, quay ra chống lại chúng thì cũng có thể coi là đã “lập công chuộc tội”. Đấy là những trường hợp như Đội Cung, Đội Cấn của VN hay Hun Sen của Campuchia. (Ban đầu do thiếu hiểu biết Hun Sen cũng tham gia Khmer đỏ và là một sỹ quan cấp thấp. Nhưng sau đó thấy Khmer đỏ quá tàn ác nên ông đã rời bỏ chạy sang VN cầu viện).

 

VỀ CHỦ NGHĨA LÝ LỊCH

Những năm 1980s trở về trước, chính vì chủ nghĩa lý lịch cho nên hàng triệu người đó bị phân biệt đối xử, không có cơ hội học hành, phát triển tài năng, cho dù họ cũng là công dân VN. Thời kỳ 1975-1990, trong chừng mực nào đó sự kỳ thị đó có thể hiểu được, bởi việc sáp nhập hai nửa quốc gia có thể chế quá khác biệt là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp.  Hàng triệu người miền bắc, bao gồm một số lãnh đạo, nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, những người có công với cách mạng, cũng có thân quyến là người của phía bên kia.

Đến giờ, tôi nghĩ chỉ nên quy trách nhiệm cho các lãnh đạo cao cấp nhất của chính quyền, quốc hội, quân đội, các đảng phái, phong trào, đoàn thể xã hội của các chế độ đó – những người đã tích cực ủng hộ sự can thiệp của ngoại bang. Tất cả những người khác, bao gồm cả các tướng lĩnh, sỹ quan, lãnh đạo cấp thấp và cấp trung, đều có thể coi là nạn nhân của thời thế. Họ sinh sống ở miền nam, họ phấn đấu công danh sự nghiệp dưới các chế độ đó là hết sức bình thường. Họ không có hoặc khá ít khả năng tác động đến đường lối chính trị ở các chế độ đó. Báo chí truyền thông, tài liệu lịch sử chỉ nên lên án những lãnh đạo cao cấp nhất của các chế độ đó. Nên coi tất cả những người khác là nạn nhân của thời cuộc.

Có rất nhiều cách để tuyên truyền, giáo dục về chính nghĩa của các cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Lấy ví dụ, có đến một nửa nước Mỹ, bao gồm các tổng thống tương lai như Bill Clinton, cho rằng việc Mỹ can thiệp vào VN là phi nghĩa, bởi không thể chấp nhận việc chính quyền nước họ can thiệp vào 1 quốc gia nhỏ bé, cách nửa vòng trái đất, và hoàn toàn không có khả năng gây hại gì đến lợi ích của Mỹ. Các phong trào phản chiến ở Mỹ và phương tây thời đó đã góp phần quan trọng khiến quân đội Mỹ phải rút về nước. Việc Mỹ giật dây giết hại anh em nhà Ngô Đình Diệm, doạ giết và ép buộc chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu cũng là bằng chứng chứng tỏ các chế độ đó chỉ là “con rối” của người Mỹ. Sau này, chính vì hối hận về sự can thiệp đó, rất nhiều cựu chiến binh Mỹ đã tích cực tham gia bù đắp hậu quả của chiến tranh, bình thường hoá quan hệ với VN. Tuy nhiên, không nên tiếp tục sử dụng từ “nguỵ quân, nguỵ quyền” bởi vì từ đó gây ảnh hưởng xấu đến hàng triệu người khác là công dân VN hiện nay.


Phương tây trong mắt thủ tướng Mahathir (Malaysia)

https://docs.google.com/document/d/1H9pdTnq3jdkaiUWpm0PtqZRh1UkY3D-v/edit