Bài viết dưới đây sẽ giải thích nguyên nhân vì sao phong trào đối kháng thất bại ở VN
https://docs.google.com/document/d/1EX4Bc3UT5inT6W1aTGW4zZQF6l_7pHXb/edit
Bài viết dưới đây sẽ giải thích nguyên nhân vì sao phong trào đối kháng thất bại ở VN
https://docs.google.com/document/d/1EX4Bc3UT5inT6W1aTGW4zZQF6l_7pHXb/edit
(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)
===============
VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ LƯƠNG TRI PHỔ QUÁT
Ở nhiều nước Đông Âu, vai trò của đảng cộng sản khá mờ nhạt, không có công lao gì đặc biệt đối với dân tộc. Đảng cộng sản ở nhiều nước Đông Âu do ngoại bang (Liên Xô) thành lập hoặc chuyển đổi, biến thành một thứ bù nhìn của ngoại bang. Công cuộc đấu tranh chống Liên Xô ở các nước này thực chất là chống lại sự can thiệp của ngoại bang. Nhưng sau này phương tây và giới chống cộng ở các nước này cố gắng diễn giải đó là đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Thế nên người dân các nước này có ác cảm với chế độ cộng sản.
Tuy nhiên, ở các nước như Việt Nam, Trung Quốc, và Nga, đảng
cộng sản rất gắn bó và có công lớn đối với dân tộc. Ở Trung Quốc, đảng cộng sản
có công chấm dứt nội chiến Quốc-Cộng, thống nhất đất nước, và từ 1980s đến nay,
họ đưa Trung Quốc vào quỹ đạo trở thành siêu cường hàng đầu thế giới. Ở Nga,
đảng cộng sản lãnh đạo nhân dân chiến thắng phát xít và biến Liên Xô trở thành
một trong hai siêu cường mạnh nhất thế giới. Chính vì thế, ngày nay dù đảng
cộng sản không còn nắm quyền lãnh đạo, người Nga vẫn đánh giá cao các nhà lãnh
đạo như Stalin và hoài niệm về Liên Xô. Năm 2000, quốc hội Nga đã lấy nhạc quốc
ca Liên Xô làm nhạc quốc ca Nga, chỉ sửa lại phần lời cho phù hợp với thực tế.
Một bài báo năm 2021 của đài FRI cũng phải thừa nhận rằng người Nga vẫn coi
Stalin là anh hùng dân tộc, bất chấp phương tây ra sức bôi nhọ ông. 70% dân Nga
coi sự nghiệp chính trị của ông là tích cực [1]. Những cuộc điều tra khác cũng
cho thấy người Nga đánh giá cao các lãnh đạo đã nâng tầm Liên Xô nước Nga như
Putin, Stalin và đánh giá thấp những người làm suy yếu nước Liên Xô như
Gorbachev, Elsin. Còn ở VN, đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân giành được nhiều
thắng lợi quân sự trước ngoại bang, đặc biệt là những chiến thắng chấn động địa
cầu như trận Điện Biên Phủ và trận Điện Biên Phủ trên không.
Lương tri phổ quát là tư duy giống nhau của mọi dân tộc trong những tình huống tương tự. Trong bài viết này, tôi muốn nói đến lương tri phổ quát trong việc trân trọng những chiến thắng trước ngoại bang và tri ân những người đã phục vụ tổ quốc. Mọi chiến thắng và thành tích trên đấu trường quốc tế, bất kể trong lĩnh vực nào (quân sự, thể thao, giáo dục, khoa học,v.v…) đều là niềm tự hào của các dân tộc. Chừng nào còn đường biên giới quốc gia, sẽ không có dân tộc nào trên thế giới chối bỏ những niềm tự hào đó. Tri ân những người đã đóng góp công lao, xương máu trong các cuộc chiến tranh với ngoại bang cũng là hành vi phổ quát của tất cả các dân tộc trên thế giới, bất kể chế độ chính trị.
Chính vì lương tri phổ quát cho nên về lâu về dài, đa số người Việt, người Trung Quốc, và người Nga sẽ không thù ghét chủ nghĩa cộng sản như phương tây mong đợi. Ở Liên Xô, những người sống cùng thời với Stalin có thể nghĩ rằng đó là thời kỳ khủng khiếp. Nhưng các thế hệ sau này tư duy công bằng hơn. Họ so sánh những vi phạm nhân quyền của Stalin với các tổng thống Mỹ cùng thời (đàn áp/bức hại cộng đồng da màu, ngược đãi phụ nữ, bóc lột công nhân tàn tệ) và thấy cũng chả khác gì nhau. Chính vì vậy, họ đánh giá cao chiến thắng phát xít và vị thế mà Stalin đem lại cho Liên Xô. Một vấn đề nữa là tri ân những người đã đóng góp công lao, xương máu cho tổ quốc. Lấy ví dụ, nước Mỹ can thiệp quân sự khắp thế giới và nhiều lần phải thừa nhận đó là sai lầm, không có lợi gì cho quốc gia. Nhưng chỉ có vài người phải chịu trách nhiệm về các cuộc chiến tranh. Người Mỹ luôn luôn tri ân các tướng lĩnh thừa hành và binh lính, bởi những người này có nghĩa vụ tuân thủ tuyệt đối mệnh lệnh của cấp trên, tham chiến để phục vụ tổ quốc. Người Mỹ hiểu rằng họ phải tri ân và không có quyền lên án, chê cười những sỹ quan và binh lính cấp thừa hành. Bởi nếu không, sau này mỗi khi đất nước cần tham chiến binh lính và sỹ quan sẽ chống lệnh, đào ngũ hết, để đợi công chúng tranh cãi vài chục năm xem cuộc chiến đó là đúng hay sai, chính nghĩa hay phi nghĩa. Đến nay đa số người Mỹ đều cho rằng việc Mỹ tham chiến ở VN là sai lầm, nhưng John McCain vẫn là anh hùng dân tộc. Ai dám có lời lẽ thiếu trân trọng ông tham chiến ở VN sẽ bị cả xã hội Mỹ ầm ầm lên án. Huống chi ở VN, những chiến thắng trước ngoại bang trong thế kỷ 20 là có thật, đem đến niềm tự hào thật sự cho dân tộc.
Phương tây thường cố gắng biện bạch rằng người dân ở các nước này
không cần tự do, dân chủ. Đài RFI dẫn lời bà Khrushcheva, cháu gái của Tổng bí
thư Khrushchev: “Người Nga chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi không hề thích được
tự do (…) Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, sự vô chính phủ hoành hành. Đối với
chúng tôi, dân chủ đồng nghĩa với hỗn loạn, tội phạm, nghèo đói, thổ hào cát cứ
và sự thất vọng. Trong nhiều thế kỷ, chúng tôi tìm kiếm lòng tự trọng từ Nhà
nước. Chúng tôi hoài nhớ những vị quân vương xưa, những người đảm bảo trật tự,
khêu gợi cảm giác ái quốc và khiến chúng tôi tin rằng Nga là một dân tộc vĩ
đại” [1]. Bà Khrushcheva chỉ nêu lên một lý do là người Nga muốn phục hồi vị thế
siêu cường của thế giới. Người Trung Quốc cũng có khát vọng ấy. Nhưng đó không
phải là lý do quan trọng nhất. Lý do quan trọng nhất là tuyên truyền của phương
tây đi ngược lại với lương tri phổ quát của nhân loại, bao gồm cả chính họ. Gần
đây, chính quyền Mỹ công khai tuyên bố Trung Quốc và Nga là kẻ thù số 1 và 2
càng khiến cho người dân hai nước này hết ảo tưởng vào phương tây.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC THẾ HỆ
Ở VN, có một nhóm khá đông, có lẽ đến vài triệu người, có hận thù với chế độ. Đó là những người phải chịu đựng những ngược đãi khi đảng cộng sản lên nắm quyền (v.d., những người hưởng bổng lộc thời Pháp thuộc, các quân cán chính VNCH và thân quyến). Đó còn là những người bị thiệt hại, oan ức do những sai lầm của chính quyền, chẳng hạn những dân oan bị mất nhà, mất đất, những người chịu án oan sai, hoặc có thân thân bị chết oan, tàn tật oan do sai phạm của lực lượng chấp pháp. Có thể gọi chung đó là “nhóm có thù hận với chế độ”.
Còn một nhóm khác cũng oán ghét chế độ. Đó là một số “công thần”, những người đã đóng góp công lao, xương máu trong các cuộc chiến tranh nhưng “sốc nặng” thời hậu chiến, bởi thực tế khác xa với những gì họ hình dung. Đó còn là nhiều cụ hưu trí, vốn không có thù hận với chế độ, nhiều người được chính quyền cho đi du học và/hoặc tạo điều kiện để có công danh địa vị trong xã hội. Thế nhưng họ có vẻ khá cay nghiệt với chế độ và hối thúc hậu bối đấu tranh để đổi mới chính trị. Nhiều người buộc tội họ cơ hội, vô ơn. Dù thông cảm với nguyện vọng đổi mới của họ, tôi cũng không khỏi băn khoăn về sự cay nghiệt ấy. Nhưng gần đây, đọc một số bài viết của họ, tôi chợt hiểu, có lẽ họ đã trải qua rất nhiều điều tồi tệ của thời bao cấp. (Một xã hội tù túng cả về vật chất lẫn tinh thần với nhiều lãnh đạo yếu kém). Những người là đảng viên thì còn phải chịu đựng những bất cập khác trong đường lối của đảng. Tất cả những điều đó đã gây cho họ những “chấn thương tinh thần”, tuy không rỉ máu như những vết thương của nhóm thù hận với chế độ. Có thể gọi chung đó là những “nạn nhân của thời bao cấp”.
Mang trong lòng mối thù hận hay oán ghét khiến cho những người đó nhìn nhận xã hội qua một lăng kính hằn học, cay nghiệt hơn những người khác. Chính vì vậy, họ khó có thể cảm nhận được xu hướng thay đổi tiến bộ của xã hội VN ngày nay. Những người đã từng là đảng viên có lẽ cũng ảo tưởng thái quá về sự tốt đẹp của các đảng phái ở phương tây. Đấy là chưa kể nhiều người có “cái tôi” rất lớn. Họ đều là các nhà chính trị salon, không hiểu gì mấy về sự bẩn thỉu của chính trị nhưng rất ngoa ngôn. Hoặc do tư duy đạo đức của họ có vấn đề cho nên không thấy lề trái cũng rất bẩn thỉu. Họ luôn nghĩ mình là “tấm gương về tài năng, đức độ” cho toàn xã hội noi theo.
Nhưng thế hệ công dân thời bao cấp còn có nhiều người khác. Đó là đông đảo những người chấp nhận thời thế hoặc ít quan tâm đến chính trị. Đó còn là đa số những người tự hào vì bản thân hoặc gia đình đã đóng góp công lao, xương máu trong chiến tranh. Họ cảnh giác với những gì đã xảy ra ở Đông Âu và thận trọng với cụm từ “đổi mới chính trị”. Nhóm này chiếm đa số trong xã hội.
Thế hệ của tôi cũng lớn lên trong nghèo túng của thời chuyển đổi từ bao cấp sang kinh tế thị trường. Tôi học trường chuyên từ bé. Các bạn bè cấp II, III của tôi đều là những người giỏi giang, thành đạt. Hầu hết đàn ông trong số đó đều thường xuyên đọc tin tức chính trị lề trái. Họ cũng chứng kiến nhiều bất cập, yếu kém của khu vực công nhưng rất ít người bất mãn với chế độ (có lẽ dưới 1%). Tỷ lệ bức xúc sôi sục vô cùng nhỏ. Có lẽ là do với thế hệ tôi và sau tôi, cơ hội học tập, phát triển tài năng ở trong và ngoài nước, cơ hội định cư ở nước ngoài đã tương đối nhiều. Mức sống được cải thiện đáng kể. Khu vực tư nhân phát triển và cũng bộc lộ những xấu xí giống như khu vực công cho nên chúng tôi không đổ hết mọi khuyết tật của xã hội cho chính quyền. Đa số chúng tôi không nghĩ mình là nạn nhân của thời bao cấp.
Theo thời gian, các thế hệ có thù hận và oán ghét chế độ sẽ qua đi. Thế hệ F1 của họ có thể vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ tư duy của các bậc cha chú. Nhưng các thế hệ F2, F3 sẽ quên dần oán hận. Pháp luật tốt lên thì số lượng những sai phạm mới sẽ giảm đi, dần dần tiệm cận với các nước tiên tiến. Những người Việt sinh ra sau Đổi Mới sẽ tư duy giống như người Nga hiện nay. Họ sẽ đánh giá lịch sử một cách công bằng. Những gì thuộc về lương tri phổ quát sẽ tồn tại mãi.
[1] 65 năm Báo cáo “mật” : Tại sao Stalin vẫn được hoài niệm ở
Nga?” FRI, 20/10/2021
(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)
===============
Ngoại giao là lĩnh vực rất quan trọng đối với hầu hết các quốc gia. Ở Mỹ, ngoại trưởng đứng đầu nội các, và ở vị trí thứ 4 trong danh sách kế vị chức tổng thống (sau phó tổng thống, chủ tịch hạ viện, và chủ tịch thượng viện). Ở VN, bộ trưởng bộ ngoại giao luôn luôn là UVTW, thậm chí nhiều người là UVBCT, Phó Thủ tướng.
Nhiều quan chức, lãnh đạo các cấp của ngành ngoại giao rất tâm huyết với dân chủ hoá nước nhà. Điều này cũng dễ hiểu. Các cán bộ ngành ngoại giao thường biết vài ngoại ngữ, đọc thông thạo báo chí nước ngoài. Nhiều người có thời gian công tác lâu năm (hoặc làm việc ở bộ phận quản lý của Bộ ngoại giao) ở các quốc gia dân chủ phát triển. Họ thấu hiểu những văn minh ở xứ người cho nên sốt sắng mong muốn áp dụng ở VN. Các cán bộ ngoại giao cũng thường ứng xử hoà nhã, khéo léo, có khả năng tạo ra môi trường thân thiện, dễ chịu hơn mặt bằng chung của xã hội.
Nhưng ngành ngoại giao làm việc chủ yếu với “chính sách đối ngoại”, trong khi tự do, dân chủ thuộc về “chính sách đối nội”. Ngành ngoại giao rất quan trọng đối với quốc gia bởi vì chính sách đối ngoại là lĩnh vực hết sức quan trọng chứ không phải vì các cán bộ ngành ngoại giao am hiểu về chính sách đối nội. Sự phân chia này đã bắt đầu từ khi đào tạo của ngành ngoại giao. Ở bậc đại học, cao học, các cán bộ ngành này chủ yếu học về chính sách đối ngoại. Khi ra công tác, họ cũng làm việc chủ yếu về đối ngoại. Họ có thể sống lâu năm ở nước ngoài, am hiểu chính sách đối nội của một vài quốc gia phát triển nào đó. Nhưng nói là họ có kinh nghiệm thực tiễn về chính sách đối nội của VN thì…có lẽ không đúng. Môi trường làm việc thân thiện, dễ chịu của ngành ngoại giao lại là nhược điểm, khiến họ khó hiểu sự phức tạp của vấn đề dân trí thấp và những bất mãn chế độ ở VN.
Ở VN, TW là nơi quyết định mọi đường lối, chủ trương quan trọng nhất của quốc gia. (Các chủ trương, đường lối liên quan đến dân chủ hoá chủ yếu cũng do TW quyết định). Sau khi TW ra quyết định, quốc hội chủ yếu chỉ thông qua. Để trở thành UVTW, các lãnh đạo của nhiều bộ ngành thường phải luân chuyển làm lãnh đạo ở địa phương (v.d. làm bí thư, chủ tịch UBND tỉnh). Điều này là do lãnh đạo các bộ, ngành thường chủ yếu làm việc với nhân viên của các bộ, ngành. Những nhân viên này thường có trình độ đại học trở lên và thông thạo một chuyên môn nào đó. Nếu họ bất mãn, chống đối hoặc làm việc không tốt thì có thể trừng phạt bằng cách sa thải, chuyển sang các công việc khác, hạ lương, thưởng. Nhưng lãnh đạo các tỉnh thường xuyên phải đối mặt với tỷ lệ dân trí thấp khá cao. Đa số công dân chỉ có bằng tiểu học, trung học. (VN hiện có chưa đến 29% dân số học đại học). Trình độ học vấn, trình độ văn hoá đều thấp. Nhiều mâu thuẫn, xung đột, nhiều ổ tội phạm và tệ nạn xã hội. Tỷ lệ bất mãn với chính quyền vì nghèo túng, an sinh xã hội kém, và các nguyên nhân khác khá cao. Thế nhưng các lãnh đạo tỉnh không thể “tống cổ” đám dân trí thấp, đầy rẫy bất mãn và tệ nạn ấy sang tỉnh khác được, và cũng không thể trừng phạt nếu họ không phạm pháp. Việc luân chuyển cán bộ như vậy sẽ giúp lãnh đạo các bộ ngành hiểu được sự phức tạp khi quản lý một quốc gia, bởi lẽ quốc gia cũng chỉ là một đơn vị địa lý cao hơn cấp tỉnh. Các lãnh đạo quốc gia cũng phải đối mặt với tỷ lệ cao dân trí thấp, đầy rẫy bất mãn và tệ nạn.
Cũng có một số lãnh đạo bộ,
ngành, đoàn thể có thể vào TW ngay mà không cần luân chuyển làm lãnh đạo địa
phương. Ví dụ lãnh đạo các đoàn thể (v.d. lãnh đạo đoàn thanh niên, các tổ chức
đại diện cho công nhân, nông dân, dân tộc thiểu số), lãnh đạo một số bộ ngành
thường xuyên chịu áp lực của công chúng như Y tế, Giáo dục; lãnh đạo các ngành
như công an, quân đội vốn thường xuyên phải đối phó với các đối tượng phức tạp,
và các âm mưu của ngoại bang kích động các nhóm dân trí thấp, các nhóm thiểu
số. Trong khi đấy, nhiều lãnh đạo của các ngành như ngoại giao vào TW ngay là
bởi vì đối ngoại là lĩnh vực rất quan trọng đối với quốc gia chứ không phải vì
họ am hiểu về chính sách đối nội. TW quyết định rất nhiều vấn đề hệ trọng của
quốc gia chứ không phải chỉ mỗi vấn đề liên quan đến đổi mới chính trị, cho nên
cần nhiều chuyên gia am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau.
CẦN AM HIỂU VỀ DÂN CHỦ HOÁ ĐẾN MỨC NÀO?
Nhiều người thường xuyên viết trên lề trái được giới thiệu là cựu lãnh đạo các cấp ở khu vực công, (bao gồm các lãnh đạo ngành ngoại giao). Nhưng điều ấy chỉ đảm bảo họ có khả năng làm việc với cơ quan nhà nước một cách lịch sự, có văn hoá, chứ không đảm bảo là họ am hiểu về vấn đề họ muốn nói (ví dụ, về tự do, dân chủ). Họ đã từng thực sự nghiên cứu chuyên sâu hoặc có kinh nghiệm làm việc thực tiễn về một chủ đề nào trong đó chưa?
Ở các quốc gia phát triển, đại biểu quốc hội và các quan chức nhà nước thường tổ chức gặp gỡ công dân, chủ yếu là để lắng nghe nguyện vọng của dân hoặc để giải thích, vận động, thuyết phục công chúng về chủ trương, đường lối của chính quyền. Nhưng đấy không phải là những cuộc đối thoại với các chuyên gia. Hoặc một tổ chức chính trị-xã hội lớn nào đó có khả năng gây áp lực lên chính quyền cho nên chính quyền bắt buộc phải gặp gỡ lãnh đạo của tổ chức đó để đàm phán.
Tuy nhiên ở VN, các quý vị lề trái, kể cả cựu lãnh đạo các cấp, thường không có chuyên môn về lĩnh vực tự do, dân chủ. Họ đọc báo rồi chỉ trích, lên án, nhưng không thật sự am hiểu ở mức chuyên gia. Ví dụ, họ có biết rằng các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra Dân chủ không có mối liên quan trực tiếp đến Phát triển? Hoặc các hoạt động tham vấn cộng đồng về luật lệ, chính sách cũng là dân chủ? Dân chủ đâu phải chỉ có mỗi chuyện đa đảng và bầu cử đa đảng. Ý kiến của họ thường rất chung chung, kiểu như “hãy dân chủ hoá để giải phóng nguồn lực”, “hãy cho phép xã hội dân sự”, nhưng cụ thể từng bước cần phải làm gì thì họ không biết. Họ cũng không phải là một tổ chức chính trị lớn, quy củ, để có thể tạo ra áp lực đáng kể khiến chính quyền buộc phải ngồi vào bàn đàm phán.
Điều chắc chắn là đảng cộng sản không thể thực hiện ngay những mô hình bầu cử dân chủ, đa đảng, tam quyền phân lập, tự do báo chí, xã hội dân sự, tổ chức chính trị hoạt động thoải mái như phương tây ở thời điểm hiện nay. (Lý do thì tôi đã giải thích trong bài “Vì sao đảng cộng sản cương quyết không để mất chế độ”). Nhưng họ vẫn có thiện chí đổi mới chính trị một cách tiệm tiến. Ví dụ có 1000 bước để đạt được dân chủ như phương tây, họ cần những người đưa ra những đề xuất thuộc về 20 bước đầu tiên. Các lãnh đạo nhà nước không tự nghĩ ra 20 bước đấy. Những người đề xuất 20 bước ấy là chuyên viên các bộ ngành, các chuyên gia nghiên cứu hoặc có kinh nghiệm thực tiễn, hoặc đôi khi là người dân. Lãnh đạo nhà nước chỉ phê duyệt hoặc bác bỏ các đề xuất đấy. Nhưng hiện nay rất ít người thực sự tâm huyết nghiên cứu để đưa ra những đề xuất như vậy. Nếu không có người đề xuất thì các lãnh đạo nhà nước cũng sẽ không làm gì. Hoặc chuyên viên các bộ ngành cũng có những đề xuất về đổi mới chính trị, nhưng không theo hướng “các công dân lề trái” mong đợi.
Tôi đồng ý rằng quốc hội và chính phủ rất nên thiết kế cơ chế để quan chức chính quyền và đại biểu quốc hội gặp gỡ công dân như ở phương tây. Riêng việc gặp gỡ như vậy đã là một bước tiến về mặt dân chủ.
Nhưng để có những cuộc đối thoại
đúng nghĩa với các chuyên gia thì lề trái hầu như rất hiếm chuyên gia về dân
chủ hoá. Hiện giờ các bộ ngành đều khuyến khích công dân đóng góp ý kiến để cải
cách hoạt động của bộ máy nhà nước, bao gồm cả các ý kiến tăng quyền công dân.
Nhưng đó phải là những đề xuất, sáng kiến có thể áp dụng ngay hoặc chỉ cần sửa
chữa đôi chút. Những ý kiến chung chung thường đăng ở báo chí lề trái như hiện
nay thì chỉ là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi !”
(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết trên blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)
===============
Không ai yêu thích triết học mà lại phủ nhận sạch trơn Karl Marx. Ông vẫn là nhà tư tưởng vĩ đại của thế giới. Nhiều triết lý của ông đúng đắn cho nên đã góp phần cải tạo chủ nghĩa tư bản. Ví dụ, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân hay quyền bình đẳng cho tất cả mọi người. Chẳng có triết gia nào trên thế giới viết được toàn những điều đúng đắn. Chủ nghĩa tư bản cũng đầy rẫy tư tưởng dã man, mọi rợ. Hiện nay hầu như không có nước nào trên thế giới theo đuổi chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa cộng sản nguyên gốc, mà đều có sự pha trộn nhiều loại tư tưởng khác nhau. VN cũng không phải là ngoại lệ.
Điểm yếu nhất của chủ nghĩa cộng sản là quyền tự do, dân chủ. Điểm yếu nhất của chủ nghĩa tư bản là bất bình đẳng. Soi chiếu vào hoàn cảnh VN thì không khó để thấy, khắc phục bất bình đẳng quan trọng hơn những tự do, dân chủ. Bất bình đẳng lớn cho nên đa số người dân vẫn rất nghèo, an sinh không đảm bảo. Cải thiện những thứ đó quan trọng hơn là những quyền bẩu cử tự do phù phiếm. Ngoài ra, phương tây hay chỉ trích về nhân quyền ở VN. Tuy nhiên, nhân quyền là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả quyền được khám chữa bệnh, quyền có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, quyền được học tập phổ thông của trẻ em vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, quyền bình đẳng giới, quyền của người đồng tính, các chính sách ưu tiên cho người yếu thế (người già, người tàn tật, người thiểu số, người di cư) v.v... Quyền mưu cầu hạnh phúc, không phải sống đói nghèo cũng thuộc về nhân quyền. Trên thực tế, VN làm khá tốt việc xoá đói giảm nghèo, cung cấp bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, cơ hội học tập phổ thông cho toàn dân, quyền cho phụ nữ, quyền của người đồng tính, quyền cho người yếu thế. Thế nên VN hai lần được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.
Các nhà “đấu tranh dân chủ” ở VN rất kém hiểu biết về nhân quyền, nhưng bị phương tây giật dây, cho nên suốt ngày chửi bới linh tinh, thậm chí còn phản quốc. Ví dụ, họ ủng hộ các nhóm Tin lành Đề Ga, Tin lành Đấng Christ, đạo Giê Sùa. Trong khi đó là các nhóm tôn giáo kích động người thiểu số ở Tây Nguyên thành lập Nhà nước Đề Ga riêng (thủ phủ Ban Mê Thuật, tách khỏi VN), và kích động người H’Mông ly khai để thành lập Vương Quốc Mông ở Xiêng Khoảng, giáp biên giới Việt-Lào.
Ở VN, đảng cộng sản lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm phương tiện để
đạt được mục đích chính là bảo vệ chế độ. Tuyên truyền của tuyên giáo cũng nhằm
mục đích chính là để bảo vệ chế độ. Chế độ nào cũng phải có học thuyết nền tảng.
Chủ nghĩa Marx-Lenin gần như là học thuyết duy nhất gần đây bảo vệ nền chuyên
chính. Nhưng tại sao đảng cộng sản lại cương quyết không để mất chế độ? Có một
số nguyên nhân chính sau đây:
+ Để đảm bảo được việc đền ơn, đáp nghĩa hàng triệu công dân đã đi
theo đảng trong suốt 4 cuộc chiến tranh. (9.2 triệu người có công với cách mạng
cùng với thân quyến của họ, tổng cộng lên tới vài chục triệu người).
+ Đảm bảo tôn vinh đầy đủ những chiến thắng và di sản đáng tự
hào của 4 cuộc chiến tranh của dân tộc.
+ Hận thù từ cuộc chiến Nam-Bắc vẫn còn sâu nặng và tuyên truyền
chống cộng của phương tây vẫn rất mạnh. Nếu để mất chế độ thì sẽ không thể kiểm
soát được sự trả thù đối với những người cộng sản và những người đang phục vụ
chế độ.
+ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Hiện giờ đội ngũ chuyên gia
còn kém, không thể có dân chủ đúng nghĩa. Bởi lẽ dân chủ chỉ là cơ chế. Quan
trọng nhất là đội ngũ chuyên gia vận hành cơ chế đấy phải giỏi thì cơ chế mới
vận hành tốt.
+ Lo ngại về dân trí thấp, mức thu nhập thấp, an sinh kém, nếu
để mất chế độ dễ dẫn đến hỗn loạn, không có dân chủ đúng nghĩa.
+ Không ổn định chính trị thì không thể phát triển kinh tế, khoa
học, công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá xã
hội.
+ Lo ngại về toàn vẹn lãnh thổ: Sự tan rã của Liên Xô đi kèm với
mất đất đai và 15% dân số là bài học đau buồn đối với tất cả các quốc gia
chuyển đổi. Nếu VN có sự xáo trộn chính trị thì rất dễ dẫn đến việc ngoại bang
kích động ly khai, dẫn đến mất lãnh thổ.
Tôi cũng tin rằng các giảng viên triết học của VN còn kém, không thể giải thích một cách thuyết phục cho sinh viên về những lợi ích của triết học Marx-Lenin. Hơn nữa, họ không có sự kết nối giữa triết học và các ngành khoa học xã hội khác để hiểu được những ứng dụng của nó.
Nhưng tôi nghĩ rằng đường lối chính trị chung ở VN hiện nay không sai. Hãy thử đặt mình vào địa vị của nguyên thủ quốc gia, phải chịu trách nhiệm với số phận của hàng trăm triệu con người, bạn sẽ hiểu. Việc tiến hành đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, tự do báo chí đều dẫn đến suy yếu uy tín của đảng và làm tăng nguy cơ để mất chế độ. Thế nên họ rất ngần ngại.
Hồi 2013, hơn 100 nhân sỹ
có danh tiếng ký kiến nghị đổi mới chính trị, trong số các đề nghị, có một đề
nghị là Đảng đổi tên trở lại là Đảng lao động. Nhưng điều đó đương nhiên vô
ích. Bởi vì điều xác định một đảng có phải là cộng sản hay không dựa trên triết
lý nền tảng Marx-Lenin chứ không phải cái tên. Thời kỳ 1951-1976, đảng cộng sản
lấy tên là Đảng Lao động. Hoặc Đảng lãnh đạo Lào hiện nay là Đảng Nhân dân Cách
mạng Lào. Nhưng phương tây vẫn gọi đó là các đảng cộng sản chính vì học thuyết
nền tảng Marx-Lenin. Nhưng lý do đến giờ họ vẫn lựa chọn học thuyết đó thì đã
giải thích trong bài.
Tôi không thích những thứ phi logic. Việc kêu gọi lãnh đạo khu vực công phải liêm chính, chấp nhận lương thấp, tận tuỵ làm việc là một thứ phi logic như vậy. Nhưng không thể lấy ngân sách nhà nước để trả lương cao cho họ.
Hãy coi mỗi cơ quan Bộ/Ngành/UBND Tỉnh giống như một công ty. Các cơ quan như vậy đều quản lý nhiều đơn vị sự nghiệp có thu phí dịch vụ. Thu nhập của mỗi cấp lãnh đạo sẽ bao gồm mức Lương Cứng (khá thấp, lấy từ tiền ngân sách) và Thu nhập Bổ sung (lấy từ lợi nhuận của các đơn vị sự nghiệp có thu).
Hàng năm, mỗi Bộ/Ngành/UBND Tỉnh sẽ tự lập Bảng Đề xuất Thu nhập Bổ sung cho các cấp lãnh đạo thuộc sự quản lý của họ, từ cấp trưởng phòng cho đến bộ trưởng/chủ tịch UBND Tỉnh dựa trên lợi nhuận từ các đơn vị sự nghiệp đó. Đơn vị nào làm trực tiếp có thể có thu nhập cao hơn một chút. Điều này tương tự như các Bảng Lương của các công ty.
Các cơ quan đảng và các tổ chức chính trị-xã hội nhà nước gộp lại với nhau thành một hệ thống riêng. Thu nhập của lãnh đạo các cấp của hệ thống này lấy từ các đơn vị sự nghiệp có do hệ thống này quản lý.
Các Bảng Đề xuất này sẽ nộp để báo cáo với Bộ Nội vụ. Bộ Nội vụ thực tế chỉ đặt mức trần thu nhập cho các cấp lãnh đạo chứ không can thiệp. Ví dụ, thu nhập của Bộ trưởng/Chủ tịch Tỉnh không quá 300 triệu/tháng, Thứ trưởng/Phó chủ tịch không quá 250 triệu/tháng. Cục trưởng/Vụ trưởng/Giám đốc Sở-Ban-Ngành không quá 200 triệu/tháng, Cục phó/Vụ phó/Phó giám đốc Sở-Ban-Ngành không quá 150 triệu/tháng.
Cách làm như vậy cho phép minh bạch thu nhập của các cấp lãnh
đạo và thu nhập đó không thấp. Thực tế, trước nay không làm như vậy thì nhiều
đơn vị sự nghiệp vẫn phải lén lút hối lộ cho các cấp lãnh đạo, vừa tha hoá nhân
cách của cả hai bên, vừa không quản lý được luồng tiền. Những lãnh đạo muốn
đàng hoàng liêm khiết cũng khó sống vì thu nhập quá thấp.
KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE
Singapore lấy tiền ngân sách trả lương cho công chức. Nghe nói
họ tính lương bằng mức trung bình của 10 doanh nghiệp hàng đầu của ngành ở mỗi
cấp tương ứng. Nhưng như vậy quỹ lương của ngân sách quá lớn. Thực tế, trên thế
giới chỉ mỗi Singapore làm được như vậy. Ở VN mà lấy tiền ngân sách trả lương
rất cao cho lãnh đạo thì dân sẽ chửi chết vì đấy là tiền thuế của họ.
Singapore làm được như vậy có lẽ vì nước đó quá bé, chỉ có 5 triệu dân, bằng một thành phố trung bình ở VN. Lý Quang Diệu làm thủ tướng 31 năm, bản thân ông vừa liêm khiết vừa là lãnh đạo xuất sắc. Vì Sing rất bé, chỉ bằng một thành phố cho nên ông ấy giám sát được đến cấp quận, huyện, bộ ngành. VN có 63 tỉnh, không lẽ cần đến 63 ông Lý. Kiếm được 1 ông đã là rất khó. Giả dụ 1 tỉnh nào đó của VN cần phải lựa chọn giữa ông A liêm khiết nhưng lãnh đạo không giỏi (không quyết đoán, ít sáng tạo) và ông B không liêm khiết lắm nhưng là lãnh đạo giỏi. Bạn sẽ chọn ai? Tôi vẫn lựa chọn ông B, chấp nhận mất một ít tiền ngân sách nhưng phát triển tốt. Nhưng rõ ràng như vậy kế hoạch xây dựng hệ thống lương như Singapore sẽ phá sản.
Ở Sing, sau khi Lý Quang Diệu mãn nhiệm, hệ thống lương đã vào
guồng tốt rồi thì vẫn vận hành được. Hơn nữa, vì nước bé nó nên vẫn vận hành
tốt.
(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết trên blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)
===============
1) CÓ CẦN THIẾT PHẢI KHAI TRÍ CHÍNH TRỊ? Chính trị là một lĩnh vực chuyên môn sâu, giống như xây dựng. Nếu bạn chưa từng được học bài bản về xây dựng và chưa từng tham gia thi công công trình xây dựng nào thì bàn về xây dựng chỉ là tán phét cho vui. (Hơn thế, chính trị là lĩnh vực đòi hỏi kiến thức đa ngành. Nhiều việc quan trọng, phức tạp của quốc gia cần nhiều chuyên gia cùng trao đổi, bàn bạc chứ không một cá nhân nào có thể tự quyết).
Người ta chỉ nâng cao dân trí đối với những thứ đơn giản, có thể hiểu được trong thời gian ngắn, và chỉ đòi hỏi năng lực tư duy ở bậc phổ thông. Còn những lĩnh vực chuyên môn sâu như chính trị, xây dựng, y tế, khoa học máy tính, muốn có kiến thức cơ bản thì nên theo các khoá học nghiêm túc. Để có thể góp ý cho những vấn đề quan trọng như "Có nên thực thi tam quyền phân lập hay không", "Tự do báo chí đến mức nào là vừa" thì thậm chí phải có trình độ cao học về một ngành thuộc quản trị nhà nước. Một số người có thể có những kiến thức đó thông qua trải nghiệm thực tế (v.d., làm quan chức hoặc lãnh đạo trung, cao cấp ở khu vực công). Nhưng hầu hết công dân trong xã hội không có cơ hội đấy thì có một con đường phổ biến hơn là tham gia những khoá cao học ở trong hoặc ngoài nước.
Trên các diễn đàn, người ta vẫn tán nhảm về đủ thứ, chính trị, xây dựng, y tế, khoa học máy tính. Nhưng ông A mô tả con mắt, ông B cái đuôi, bà C cái chân voi thì vẫn chẳng thể giúp nhóm khán giả mù hình dung đúng về con voi. Đấy là chưa kể, cùng mô tả mắt voi, ba ông A, D, F mỗi người nói một phách thì làm sao các khán giả mù hiểu được. Thậm chí có nhiều người tự đọc tài liệu chính trị linh tinh rồi đòi nâng cao dân trí cho người khác. Rất tiếc, chính trị là một lĩnh vực đòi hỏi hiểu biết rộng và có hệ thống, cho nên không thể tự đọc được.
Tôi không phủ nhận tác động tích cực của các diễn đàn như vậy
(ví dụ để tán chuyện thư giãn, kết nối làm quen, và nếu có thù hận thì đó là những
nơi tốt để xả thù hận). Nhưng gọi đó là nâng cao dân trí thì hơi buồn cười.
Nhiều người ở hải ngoại và những người có thù hận với chế độ cho rằng người
trong nước bị tuyên giáo nhồi sọ. Họ có bao giờ nghĩ rằng chính họ cũng bị
tuyên giáo phương tây nhồi sọ cho nên hiểu biết về chế độ cộng sản rất méo mó
hay không?
Ngoài ra, tôi không nghĩ rằng sẽ có chuyên gia nào về chính trị thích lên các diễn đàn đại chúng để nói về chuyên môn của mình. Đơn giản là vì chẳng ai thích đem cái “sinh nghề, tử nghiệp” của mình ra cho giới không chuyên làm mồi nhậu. Có thể đôi khi họ sẽ đảo qua nếu quan điểm của họ phù hợp với ý nguyện của “nhân dân tiến bộ” ở những nơi ấy. Nhưng sẽ thật tai hoạ nếu đó là ý tưởng “bảo vệ chế độ”, “chống lại nguyện vọng của nhân dân”. Rất nhiều người mang nặng thù hận, hoặc đố kị, hoặc hiểu biết sơ sài, sẽ kiên trì “chứng minh” rằng họ là kẻ ngu dốt nhất VN. Thế nên tôi không ngạc nhiên khi Huỳnh Thế Du bỏ chạy khỏi một diễn đàn như vậy.
2) ĐỂ VIẾT SÁCH CẦN NHỮNG GÌ? Để viết một cuốn sách giáo khoa về chính trị cho thiếu nhi cũng cần đến các giáo sư/tiến sỹ chủ biên và biên soạn chính. Những người khác ngoài giới vẫn có thể viết sách chính trị. Đôi khi họ cũng có những ý hay, nhưng nhiều khi chỉ là “Phát minh lại cái bánh xe”. Nhưng viết sách để độc giả có hiểu biết toàn diện và hệ thống, thực sự phục vụ dân tộc thì thường giới hàn lâm mới làm được. Và không ai trong giới hàn lâm tin rằng các kiến thức trong sách giáo khoa cho thiếu nhi hay cho đại chúng là đủ để trả lời các vấn đề chính trị quan trọng của quốc gia.
3) Giới hàn lâm đảm nhiệm tất cả những đề án quan trọng nhất về Đổi mới Chính trị, Xã hội với vai trò là chủ nhiệm đề tài, hoặc nghiên cứu chính. Tất cả những gì quan trọng và phức tạp đều phải nghiên cứu, và nghiên cứu là nghề của họ. Đôi khi, bạn có thể thấy một một ông bộ trưởng/thứ trưởng là chủ nhiệm một đề án quốc gia nghiên cứu về cải tổ pháp luật (ví dụ, chuyển đổi mô hình chính trị thành lưỡng viện, tam quyền phân lập). Nhưng phụ trách chính về mặt chuyên môn vẫn phải là một ông bà giáo sư, tiến sỹ nào đó. Ông bộ trưởng/thứ trưởng chỉ là người ra quyết định cuối cùng. (Vai trò của ông bộ/thứ trưởng giống như giám đốc doanh nghiệp. Kế toán trưởng làm hết các công việc kế toán. Nhưng giám đốc mới là người quyết định có duyệt chi cái này, cái kia hay không.)
Tôi chưa có thời gian để tìm hiểu kỹ về các nước khác. Ví dụ Tối cao Pháp viện của Mỹ cũng phải nghiên cứu sửa đổi nhiều quy định pháp lý quan trọng, tôi chưa có thời gian tìm hiểu lý lịch các ông bà thẩm phán ở viện đó. Nhưng điều chắc chắn, tất cả những vấn đề khó khăn nan giải nhất về chính trị-xã hội ở các quốc gia đó đều phải nghiên cứu, và giới hàn lâm đảm nhận chủ yếu. Ở VN, vai trò của giới hàn lâm còn lớn hơn nữa.
4) CÓ MỘT SỰ HIỂU LẦM PHỔ BIẾN là để hiểu về chính trị thì phải
đọc tài liệu về Khoa học Chính trị, hoặc các giáo sư Khoa học Chính trị là
những người hiểu biết nhiều nhất về chính trị. Nếu bạn muốn tìm hiểu về cấu
trúc bộ máy nhà nước, về một hệ thống bầu cử ở một quốc gia thì có thể học Khoa
học Chính trị. Nhưng để hiểu sâu về chính trị nói chung, ví dụ để trả lời các
câu hỏi: “Chính quyền cần phải làm gì để đổi mới chính trị?” hay “VN có nên cho
phép đa đảng hay không?” thì phải có kiến thức về một lĩnh vực đa ngành gọi là
Quản trị Nhà nước (QTNN), bao gổm nhiều ngành xã hội nhưng trọng tâm là KHOA
HỌC CHÍNH TRỊ, CHÍNH SÁCH, KINH TẾ, VÀ LUẬT. (Ngành XÃ HỘI HỌC cũng cung cấp
nhiều kiến thức về Quyền lực, Phong trào xã hội, Các tổ chức xã hội, Đình công,
Biểu tình, Xã hội Dân sự v.v. Về chính trị đối ngoại thì các ngành như QUAN HỆ
QUỐC TẾ, KHU VỰC HỌC cung cấp nhiều kiến thức hữu ích).
Dĩ nhiên, chẳng có chuyên gia nào trên đời được đào tạo sâu về 3-4 ngành của QTNN. Thông thường họ được đào tạo một ngành và rồi tự nghiên cứu thêm hoặc có cơ hội trải nghiệm thực tiễn nên có kiến thức (ví dụ có cơ hội làm lãnh đạo bậc trung/cao cấp ở khu vực công). Cũng không phải là cứ học về Quản trị Nhà nước là cái gì về Quản trị Nhà nước cũng biết, hoặc là học về chính sách công là có quyền nói về bất kỳ chính sách gì. Các khoá học chỉ cung cấp cho các bạn các kiến thức cơ bản ban đầu, thậm chí học Quản trị Kinh doanh, bạn cũng sẽ được học về luật. Nhưng muốn hiểu sâu thêm về chủ đề gì thì bạn phải tự nghiên cứu thêm.
5) MỘT SỰ HIỂU LẦM PHỔ BIẾN KHÁC là cái gì liên quan đến luật thì các luật gia sẽ là chuyên gia. Người dân không chỉ bức xúc về các vấn đề dân chủ, dân quyền mà còn bức xúc về rất nhiều luật lệ, cơ chế, chính sách khác. Ví dụ, 80% các vụ kiện dân sự ở VN liên quan đến đất đai. Luật Đất đai và các chính sách về đất đai là do các luật gia và các nhà kinh tế cùng xây dựng. Có nhiều luật/chính sách chuyên ngành chủ yếu là do chuyên gia của ngành đó xây dựng: Ví dụ Luật Cạnh tranh là do các chuyên gia kinh tế đóng góp chủ yếu, Luật môi trường do các chuyên gia môi trường đóng góp, Luật Giao thông-Vận tải, Luật Năng lược do các chuyên gia giao thông, vận tải, năng lượng đóng góp. Nhiều khi chuyên gia của vài ngành cùng tham gia xây dựng luật: ví dụ, Luật Lao động, Luật Công đoàn. Các luật gia chỉ đảm nhiệm chủ yếu và hầu hết về một số bộ luật/luật như Hiến Pháp, Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Dân sự…Thế nên khi nỏi rằng hệ thống luật pháp của VN kém, có nghĩa chuyên gia các ngành nói chung kém chứ không phải chỉ các luật gia kém. (Luật pháp ở đây bao gồm các cơ chế, chính sách)
6) VAI TRÒ CỦA NGÀNH KINH TẾ TRONG QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC: Hồi lâu lâu, TS Nguyễn Văn Đáng, một chuyên gia chính trị và xã hội học, có bài phàn nàn rằng Kinh tế hiện nay thống trị lĩnh vực chính sách. Thực tế đúng là như vậy, nếu vào website của Harvard Kennedy School of Government (trường hàng đầu về chính phủ), bạn sẽ thấy các giáo sư kinh tế hướng dẫn 85%-90% luận án tiến sỹ về Chính sách công. Ở VN và các nước khác cũng vậy, các giáo sư kinh tế hướng dẫn luận văn cho đa số các luận án về Chính sách công, Quản lý công, Quản trị Nhà nước. Kinh tế hiện đại hoàn toàn khác với cách hiểu thông thường chỉ gắn với gì có vẻ “kinh tế” (tiền bạc, giá cả, chứng khoán v.v). Kinh tế hiện đại được định nghĩa là khoa học về cách thức xã hội quản lý nguồn lực (nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người (xã hội), và nguồn lực nhân tạo). Ngành kinh tế phải tham gia hoạch định chính sách cho tất cả các ngành khác cho nên đào tạo rất nhiều mà vẫn không đủ.
Một ví dụ, GS Nguyễn Tiến Hưng, tác giả cuốn “Khi đồng minh tháo chạy”, là giáo sư kinh tế nhưng là phụ tá chính trị của TT Nguyễn Văn Thiệu. Có nghĩa là có kinh nghiệm nghiên cứu kinh tế thì rất thuận lợi để nghiên cứu chính trị (QTNN).
Hiện nay, hầu hết các nhà kinh tế VN tập trung nghiên cứu về các vấn đề kinh tế truyền thống. Thế nên nếu hỏi họ về dân chủ, dân quyền thì có thể họ sẽ trả lời khá ngây thơ, trừ một số người nghiên cứu về Kinh tế Chính trị thì bắt buộc họ phải tìm hiểu rất nhiều về các lĩnh vực chính trị.
7) TUYÊN TRUYỀN CỦA TUYÊN GIÁO: Tuyên giáo của đảng nào (chính quyền nào) cũng hướng đến nhóm đối tượng đông đảo nhất, bao gồm những người hiểu biết chính trị sơ sài (v.d. trẻ vị thành niên, thanh niên mới lớn, nhóm dân trí thấp, các nhóm ở các vùng sâu, vùng xa), những người ít quan tâm đến chính trị, và các công thần (v.d., các cựu chiến binh) để xây dựng niềm tin của nhân dân vào đảng (chính quyền) nhằm ổn định xã hội và bảo vệ chế độ. Có nhiều người ca tụng truyền thông phương tây khách quan, đa chiều. Thực tế, không hoàn toàn vậy. Truyền thông đại chúng của họ tấn công vào những quốc gia có thể chế chính trị khác họ hết sức bất công, tàn nhẫn. Không khó để thấy ở trên các hãng tin lớn của phương tây, hàng trăm bài báo ca ngợi các nền dân chủ mới có 1, 2 bài nói về mặt tích cực của các chế độ cộng sản, nhưng thậm chí sẽ chẳng có bài nào ca ngợi một người cộng sản nào đó là anh hùng chân chính, chiến đấu vì đại nghĩa. Với cách tuyên truyền như vậy thì đa số công dân trong xã hội bị “tẩy não” là đương nhiên. Hơn nữa, trong các xã hội phương tây người dân có nhiều quyền hơn, tự do hơn, thịnh vượng hơn cho nên nhiều độc giả ác cảm với Tuyên giáo VN hơn. Về bản chất “chúng nó đều như nhau cả thôi”.
Thật ra, nhiều bài của tuyên giáo trên truyền thông đại chúng của VN dựa trên những nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng do phải hướng đến nhóm đối tượng như vậy cho nên chúng mang tính đảng phái khá nặng, lập luận đơn giản đến mức thiếu logic, khiến cho nhiều người có năng lực tư duy tốt cảm thấy khó chịu vì có vẻ dối trá. Nhưng nếu bạn đọc hồi ký của Obama mà tôi trích trong bài “Người Mỹ nghĩ gì về nền chính trị Mỹ”, bạn sẽ thấy người dân Mỹ cũng rất ngứa tai với tuyên truyền chính trị ở nước họ.
Nói như vậy không có nghĩa là hệ thống truyền thông ở VN cứ nên tiếp tục với cung cách như hiện nay. Có rất nhiều người bức xức về những tuyên truyền sùng bái lãnh tụ hoặc ca ngợi các chiến thắng của cuộc chiến 1975-1975, bao gồm cả chiến thắng giữa người Việt với người Việt, bởi những điều đó gây ra tổn thương cho cộng đồng Việt kiều và những người gắn bó với chế độ VNCH và có oán hận với chế độ hiện nay. Nhưng các bạn cũng nên hiểu cái khó của Đảng CS. Họ cần phải ổn định xã hội trước sức tấn công quá mạnh của truyền thông phương tây và hải ngoại chống cộng. Tiếc là tôi chưa nghĩ ra giải pháp nào cả.
8 ) TRÁCH NHIỆM CỦA GIỚI HÀN LÂM: Giới hàn lâm và các nhà lý luận/phê bình chính trị có luôn trách nhiệm định hướng xã hội về mặt lý thuyết. Ở phương tây, từ thời của Marx, Engel, Arendt, Sartre cho đến gần đây, Kissinger, Huntinhton, Fukuyama, Sandel, Habemas, Zakaria đều là những người đề ra những triết lý, học thuyết chính trị, học thuyết phát triển phù hợp với quốc gia của mình với tư cách là triết gia, nhà tư tưởng độc lập. Họ phải có năng lực phê phán chính phủ một cách khách quan. Không những thế, họ còn nghiên cứu, định hướng về tổ chức, phong trào cho giới hoạt động thực hành.
Lý thuyết chính trị bao gồm phần lớn là triết học chính trị. Thế nên nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng cũng phải có tư duy triết học, nghĩa là gạt bỏ mọi định kiến để tư duy một cách khách quan. Sẵn sàng thay đổi quan điểm 180 độ. Lề phải có nhiều nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng như vậy, nhưng công việc của họ tương đối lặng lẽ. Dĩ nhiên còn rất xa mới có thể so sánh với các triết gia, nhà tư tưởng lớn của thế giới, nhưng không thể phủ nhận những nỗ lực của họ. Rất nhiều lý luận của tuyên giáo dựa trên những kết quả nghiên cứu của họ. Nhưng lề trái hầu như không có những nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng như vậy. Lý do có lẽ vì các cụ hưu ít được đào tạo bài bản ở các ngành đấy, trong khi giới học giả trong độ tuổi lao động muốn đóng góp cho quốc gia bằng con đường chính thống cho nên cũng không hứng thú dính vào lề trái. Một nguyên nhân nữa là có thể chủ trương đường lối của chính quyền hiện nay không quá tệ cho nên họ không bức xúc đến mức thấy cần phải đấu tranh.
Hiện nay, giới Việt kiều và nhóm có hận thù với chế độ thống trị các diễn đàn lề trái. Nhưng những lý luận của họ chỉ là một mớ thiên kiến xác nhận (confirmation bias) chứ không phải là những nghiên cứu nghiêm túc. Nghĩa là mang sẵn định kiến trong đầu “cộng sản là ác quỷ”, “cần phải xoá bỏ độc tài ngay lập tức”, họ cố gắng tìm lý lẽ để biện bạch cho các định kiến ấy một cách khiên cưỡng. Hơn nữa, họ rất thiếu kiến thức thực tế ở VN cho nên cũng chẳng thể kỳ vọng gì ở họ. Có một dạng bài viết khác là hô hào, cổ vũ chung chung kiểu như “cần phải dân chủ hoá”, “cần phải thực thi tam quyền phân lập”, “cần phải trung lập hoá quân đội”. Thế nhưng có lẽ các tác giả thiếu kiến thức bài bản cho nên cũng chẳng thể đề xuất cái gì có tính ứng dụng.
9) TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NHÀ THỰC HÀNH: Một số nhà thực hành, ví dụ các thủ lĩnh chính trị như Gandhi, King, Mandela, cũng tự nghĩ ra được các học thuyết để định hướng cho giới thực hành. Nhưng thông thường các học thuyết đó đều phải dựa trên nguyên tắc “được lòng dân”, đoàn kết dân tộc. VN có bối cảnh lịch sử rất đặc biệt. Đảng cộng sản rất có công và gắn bó với dân tộc. Thế nên càng đòi hỏi những triết lý đặc biệt. Thế nhưng giới thực hành VN không đủ năng lực để tự xây dựng những triết lý “được lòng dân” như vậy. Họ dựa vào các lý luận của phương tây, giới chống cộng và các nhóm có thù hận với chế độ thì tất yếu dẫn đến bị cô lập, không có chính nghĩa. Thậm chí họ là trở ngại cho đổi mới chính trị bởi chính quyền đánh giá họ nhận thức yếu kém, cực đoan, cuồng tín. Không những thế, không có kiến thức về phát triển phong trào thì còn trở thành phá hoại cộng đồng đối kháng như vừa rồi.
10) CHÍNH TRỊ LÀ LĨNH VỰC QUÁ PHỨC TẠP. Nếu muốn có những hiểu
biết cơ bản một cách có hệ thống thì không cách gì có thể thay thế các khoá học
bài bản. Bây giờ có nhiều khoá cao học về Chính sách công, Quản trị Công, Quản
trị Nhà nước, Kinh tế, Quản trị Kinh doanh online, offline, trong và ngoài
nước. Bất kể bạn có bằng đại học thuộc ngành nào cũng có thể đăng ký. (Các
khoá cao học về Luật, Quan hệ Quốc tế, Khoa học Chính trị thì thường đòi hỏi
bạn phải có bằng đại học có liên quan, hoặc phải có người chứng nhận có kinh
nghiệm làm việc thực tế liên quan). Chỉ 1.5-2 năm là có kiến thức cơ bản.
(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết trên blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)
==================
Lâu nay giới Việt kiều đã gửi vô vàn ý kiến tâm huyết về đóng góp cho tổ quốc. Dù nhiều người trong số họ đã mang quốc tịch nước khác, họ vẫn là người gốc Việt. Họ đau đáu lo lắng cho quê hương, muốn quê hương phát triển bằng xứ người cũng là điều dễ hiểu, đáng được lắng nghe. Chỉ có điều, nếu họ thuần tuý nói về chuyên môn thì hữu ích. Nhưng cứ động đến luật pháp, cơ chế, chính sách (bao gồm chính trị) của VN thì sai rất nhiều. Vì sao ư? Vì khác với khoa học tự nhiên và kỹ thuật không có biên giới, khoa học xã hội có biên giới. Nghĩa là, để bàn về một luật lệ, cơ chế, chính sách của một quốc gia thì phải có trải nghiệm sống lâu dài ở đó thời gian gần đây với tư cách là một công dân, và có sự trao đổi thường xuyên với các chuyên gia bản địa. Đấy là những điều giới Việt kiều thường không có.
Chẳng hạn như về nghiên cứu khoa học ở VN. Nhiều người ở hải ngoại cứ đòi đào tạo tiến sỹ, phong phó giáo sư, giáo sư phải có xuất bản quốc tế, không những thế phải là xuất bản quốc tế xịn. Họ không biết rằng ở đa số trường đại học ở VN, đặc biệt là các trường tư, trường ở tỉnh lẻ, có nhiều khoa không ai biết xuất bản quốc tế nghĩa là gì. Đào tạo tiến sỹ ở VN không chỉ có mục đích hội nhập quốc tế mà còn có mục đích cố vấn chính sách cho chính phủ và phát triển nghiên cứu ứng dụng. Ví dụ, ngành luật VN hiện giờ vẫn chẳng mấy ai có xuất bản quốc tế. Nhưng toàn bộ việc sửa đổi các điều luật và chính sách quan trọng của quốc gia vẫn do giới học giả, đặc biệt là các giáo sư, tiến sỹ đảm nhiệm chính.
Hay là về kinh doanh. Hôm trước có một bài viết của một giáo sư
Việt kiều phàn nàn rằng ông đã giới thiệu rất nhiều doanh nghiệp Nhật Bản cho
giới doanh nhân VN. Thế nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, các doanh nhân VN đều
lựa chọn đối tác Trung Quốc bởi đối tác Nhật Bản thường đòi hỏi rất cao về
chuẩn mực sản xuất và chất lượng sản phẩm, khó mà đáp ứng được. Thật ra không
thể trách giới doanh nhân VN. Họ đã phải chịu vô số khó khăn rào cản. Thế nên
không có gì ngạc nhiên họ luôn phải thực dụng, chọn đối tác dễ tính để đảm bảo
có lợi nhuận. Có người nói, hầu như doanh nghiệp nào cũng phải trốn/tránh thuế
thì mới tồn tại được. Vậy nên từ chối những yêu cầu cao về chuẩn mực và chất
lượng đã là gì. Muốn làm như ông nói thì phải cải tạo toàn bộ môi trường pháp
lý kinh doanh, và đào tạo tính chuyên nghiệp cho người Việt từ nhỏ.
II) VỀ CHÍNH TRỊ
Ở các lĩnh vực khác như khoa học, kinh tế, ý tế, giáo dục, xã hội, giới Việt kiều đều thực tâm đóng góp cho quốc gia. Chỉ có điều, họ thường rất thiếu kiến thức thực tiễn và cơ hội trao đổi với các chuyên gia bản địa. Nhưng chính trị thì rất khác. Quốc gia nào cũng tuyên truyền để bảo vệ chế độ của mình. Do ý thức hệ khác biệt, phương tây thường tuyên truyền tẩy não công dân nhằm tấn công làm suy yếu, thậm chí lật đổ chính quyền ở tất cả những nơi có thể chế chính trị khác họ. Thế nên giới Việt kiều có bức xúc với chính trị trong nước thường hiểu biết rất méo mó về chế độ cộng sản. Nhiều người mang quốc tịch nước ngoài cho nên bảo vệ lợi của nước họ chứ không phải lợi ích của VN. Chưa nói đến nhiều người mang sẵn thù hận cho nên chỉ muốn lật đổ chế độ để trả thù cho bõ ghét chứ không phải thực tâm muốn quốc gia phát triển.
Tiếc rằng giới hoạt động đối kháng không có kiến thức cho nên không hiểu điều đó. Họ nghĩ phương tây làm gì cũng giỏi hơn đứt người Việt. Triết lý gì của tây cũng là khuôn vàng thước ngọc. Một số bạn trẻ (và không trẻ lắm) quyết tâm “đi tìm đường cứu nước” bằng cách ra nước ngoài gặp gỡ các chính trị gia phương tây và cộng tác với các tổ chức chính trị hải ngoại. Họ lý luận rằng ngày xưa Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của ông cũng làm như thế được, thì tại sao bây giờ mình lại không thể làm như thế?
Thật ra là khác rất nhiều. Cho đến tận 1945, hầu như toàn dân VN mù chữ. Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của ông được học hành đến tiểu học, trung học đã là dạng tinh hoa của dân tộc, hiểu biết uyên bác nhất trong xã hội. Họ cộng tác với hải ngoại để tìm đường cứu nước, thành lập tổ chức chính trị riêng, nhưng họ lắng nghe và trân trọng ý kiến của các tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Nhiều người do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh gửi ra nước ngoài học tập. Họ nghiên cứu nghiêm túc các tài liệu của nước ngoài và thấy rằng chỉ có Lê Nin nhắc đến quyền lợi của các dân tộc thuộc địa. Hơn nữa, họ học hỏi cả LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ lẫn THỰC HÀNH ĐẤU TRANH. Quan trọng nhất là khi ấy người Việt mất nước. Mọi vấn đề hệ trọng của quốc gia đều do Toàn quyền Đông Dương và các quan Công sứ người Pháp quyết định.
Ngày nay, thời thế đã khác rất nhiều. Hiện giờ người Việt đã nắm quyền điều hành quốc gia. Kiến thức và kinh nghiệm quản trị nhà nước của VN đã tích luỹ được rất nhiều sau hơn 70 năm. Những người am hiểu nhiều nhất về chính trị là các chuyên gia về quản trị nhà nước. Nhưng không ai trong số đó lựa chọn lề trái khi còn ở độ tuổi lao động. Giới đối kháng trẻ và trung niên chỉ vài người có một số kiến thức, nhưng hoàn toàn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn (ví dụ, làm lãnh đạo trung/cao cấp ở khu vực công). Đại đa số còn lại chẳng có tí kiến thức gì về điều hành quốc gia. Chính vì thiếu hiểu biết cho nên họ sùng bái phương tây, không hiểu rằng người nước ngoài thường không đủ cả TÂM lẫn TẦM để bàn về chính trị VN. Các nhà hoạt động ngày nay “ra đi tìm đường cứu nước” chỉ được các tổ chức hải ngoại huấn luyện về THỰC HÀNH ĐẤU TRANH. Các khoá học đó được xây dựng trên các tiên đề (không chứng minh): “Chế độ cộng sản là ác quỷ”, “Mọi chế độ độc tài đều xấu xa, cần phải loại bỏ ngay lập tức”. Giá như họ theo học những khoá cao học nghiêm túc để hiểu về LÝ THUYẾT CHÍNH TRỊ thì đã tốt. Đấy là chưa kể, đại đa số giới hoạt động chưa thành đạt cho nên nhu cầu thể hiện bản thân bằng con đường chính trị rất lớn, dẫn đến không tôn trọng các tiền bối lề trái thành đạt và hiểu biết, đồng thời đố kị, chửi bới, tấn công các chuyên gia lề phải. Thế nên, họ rất dễ bị các thế lực chống cộng tung hô như anh hùng để lợi dụng vào những mục đích đen tối. Nhiều cụ hưu trí lề trái thường tri ân các anh hùng, liệt sĩ, chứ đám thanh niên, trung niên chỉ say mê bôi nhọ họ để làm hài lòng cộng đồng Bolsa. Không thể so sánh họ với những người kháng chiến thời tiền thời nghĩa được.
Nhiều người sẽ thắc mắc trình độ chuyên gia của VN còn yếu kém thì làm sao để tự quyết định công việc chính trị nội bộ mà không cần nhờ đến các chuyên gia quốc tế? Thực tế, đúng là trình độ chuyên gia của VN vẫn còn khá kém. Nhưng tất cả các vấn đề về chủ trương, đường lối chung (v.d. có nên áp dụng tam quyền phân lập hay chưa? Tự do báo chí ở mức nào là vừa? Có nên cho phép phát triển những loại hình xã hội dân sự hay không?), chuyên gia người Việt hoàn toàn có thể tự quyết định được. Chỉ khi đi vào chi tiết, ví dụ sau khi quyết định cần sửa đổi một số điều của Bộ luật dân sự, họ có thể tham khảo của một số chuyên gia quốc tế trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi. (Chuyên gia quốc tế ở đây là nói đến chuyên gia của các tổ chức phát triển quốc tế. Họ biết đối thoại một cách khiêm tốn và tôn trọng đối tác, bởi hiểu rõ nhược điểm của chính mình với tư cách là người nước ngoài. Ở đây không nói đến mấy ông giáo sư, tiến sỹ chính trị Việt kiều chỉ chê bai, chửi bới um xùm, nhưng chưa bao giờ có cơ hội trao đổi với các chuyên gia trong nước).
Một số người cho rằng việc các thanh niên mới lớn và những người hiểu biết chính trị sơ sài đấu tranh cũng là điều tốt để gây áp lực lên chính quyền. Tiếc là điều ấy không đúng lắm. Hiện nay chính quyền chủ trương không để cho bất kỳ một mầm mống tổ chức chính trị nào tồn tại. (Chủ trương này đúng hay sai là vấn đề rất dài, tôi sẽ bàn ở những bài viết khác). Thế nên cộng đồng đối kháng vốn đã èo uột, teo tóp lại càng rời rạc hỗn loạn. Không có tổ chức lớn, mỗi người, mỗi nhóm be bé có một quan điểm khác nhau cho nên chẳng tạo ra được sức ép nào. Không những thế, đại đa số họ còn là trở ngại cho công cuộc đổi mới chính trị bởi họ khiến công an lo ngại nhận thức yếu kém, cực đoan và cuồng tín.
Nói như vậy không có nghĩa là hoàn toàn không cần đến các nhà thực hành, hoặc không nên lắng nghe quan điểm chính trị của giới Việt kiều. Nếu các nhà thực hành không có cơ hội được học tập về lý thuyết, hoặc không hứng thú với việc học hành đó thì sao? Bài viết này chỉ khuyên họ nên cẩn trọng khi cộng tác với hải ngoại. Đặc biệt, hành vi của họ phải hướng đến “được lòng dân”. Không phải là cứ chống độc tài là đương nhiên trở thành người “đấu tranh vì dân tộc”, bởi nếu vậy thì IS, Taliban cũng “đấu tranh vì dân tộc”.
Ngoài ra, nếu nhà hoạt động nào cảm thấy phù hợp với con đường học thuật thì nên cân nhắc lựa chọn con đường ấy. VN hiện giờ rất thiếu các nhà nghiên cứu độc lập thực sự quan tâm đến đổi mới chính trị. Quá thiếu chuyên gia, thiếu những đề xuất có tính thực tế, thì cho dù công chúng chửi bới cỡ nào, chính quyền cũng sẽ không làm gì cả.
Nếu các bạn để ý thì sẽ thấy có sự thiên vị rõ ràng đối với giới
lý luận so với giới thực hành. Chính quyền trừng phạt rất nặng những thanh niên
mới lớn và những người hiểu biết chính trị sơ sài nhưng manh động, đe doạ an
ninh quốc gia. Trong khi đó, họ hầu như không cản trở các nhà hoạt động trẻ đi
học cao học chính sách công và các cao học khác. Những người bất mãn chế độ và
những người ra khỏi đảng vẫn được phong giáo sư, phó giáo sư. Nghĩa là đảng CS
vẫn thực tâm lắng nghe và trân trọng tri thức, với điều kiện bạn phải am hiểu
về về vấn đề mình nói.
(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết trên blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)
==================
Có nhiều người bức xúc vì Bộ luật Lình sự VN có Điều 331 quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,cá nhân”. Họ nói rằng đây là một tội chung chung mà các nước phát triển không có.
Trên thực tế, ở những nơi trình độ luật pháp càng cao, thể chế nhà nước mạnh thì luật pháp càng rõ ràng, cụ thể, chi tiết. Còn ở những nơi trình độ luật pháp còn yếu, trình độ luật gia chưa cao thì phải chấp nhận những luật chung chung, sử dụng để kết tội những người vi phạm nhiều vấn đề nhưng chưa có quy định pháp luật.
Trình độ luật phápVN đang ở đâu??? Trước tiên hãy trả lời một câu hỏi rất trực quan: “Trình độ bóng đá VN đang ở đâu?”. Ai quan tâm đến bóng đá đều biết, bóng đá VN mới đang chỉ lóp ngóp trong cái ao làng ASEAN, chưa vươn đến tầm bóng đá châu Á, đừng nói đến so với các nước tiên tiến nhất như Brasil, Argentina, Đức, Ý, Tây Ban Nha. Cứ đem tư duy của các nền bóng đá phát triển áp soi chiếu VN thì sẽ có nhiều phi lý, ngớ ngẩn.
Trình độ luật pháp và mọi lĩnh vực khác VN cũng tương tự như bóng đá thôi. Một nước chưa phát triển thì mọi thứ sẽ kém đống đều, chứ không thể có lĩnh vực nào mà lại tốt vọt lên so với các ngành khác.
Muốn có nền luật pháp tốt thì nghiên cứu luật pháp phải tốt. Đợt phong phó giáo sư, giáo sư (PGS/GS) năm 2018 là đợt cuối cùng phản ánh năng lực thực chất của các PGS/GS bởi vì các ứng viên không yêu cầu phải có xuất bản quốc tế. Tuy nhiên, trong đợt này 11/28 ngành khoa học có GS được phong nhưng không có bài báo quốc tế nào, và luật là một ngành trong số đó. Điều đấy có nghĩa là khả năng hội nhập của ngành luật ở VN còn khá thấp. Có nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân quan trọng là ngành luật ít cơ hội được đào tạo ở nước ngoài hơn hẳn nhiều ngành khác. VN vẫn là nước xuất khẩu chất xám. Đa số tài năng của tất cả các ngành ở lại nước ngoài làm việc. Đấy là khó khăn rất lớn để phát triển đội ngũ chuyên gia.
Nhưng
ngược lại, không nên quá tin tưởng vào ý kiến của các chuyên gia hải ngoại. Những
người nghiên cứu lâu năm đều biết rằng luật pháp, cơ chế, chính sách của nước
nào phải do công dân nước đó soạn thảo. Người nước ngoài không đủ năng lực làm
việc đó. Các chuyên gia người Mỹ soạn thảo luật lệ, chính sách cho Mỹ thì tốt
hơn các chuyên gia Việt hoạch định luật lệ, chính sách cho VN. Tuy nhiên các
chuyên gia Mỹ hoạch định luật lệ, chính sách cho VN thì không bằng người Việt.
Lý do là để soạn thảo luật lệ, chính sách cho một quốc gia thì phải am hiểu
ngôn ngữ, văn hóa, đặc điểm dân tộc, môi trường chính trị, thật sự sống ở quốc
gia đó trong thời gian dài, và thường xuyên trao đổi với các chuyên gia của nước
đó. Đấy là những điều mà những người không có quốc tịch VN không có được. Thực
tế, ý kiến của người ở hải ngoại về các vấn đề luật pháp, chính sách của VN thường
rất ngô nghê, nông cạn, không thể bằng chuyên gia người Việt.
NẾU Ở MỸ CÁC BỊ CÁO VỤ THIỀN AM CÓ THỂ BỊ KIỆN NHIỀU HƠN
Có
một số người ở hải ngoại tuyên truyền rằng nếu ở phương tây thì các bị cáo sẽ
được trắng án. Tôi nghĩ rằng ở Mỹ họ sẽ bị kiện nhiều hơn, thậm chí bị kiện sạt
nghiệp, mặc dù có thể không bị mức án như ở VN. Ở Mỹ có rất nhiều luật, và công
dân rất thích kiện cáo. Một người bị ngã vì một vũng nước trước cửa một ngôi
nhà cũng có thể kiện chủ nhân ngôi nhà đó. Chính vì vậy, có rất nhiều lý do người
ta có thể kiện bị cáo vụ Thiền Am:
+
Công an huyện Đức Hòa, Giáo hội phật giáo VN tỉnh Long An,
thượng tọa Thích Nhật Từ có thể kiện vì xâm phạm danh dự, uy tín của cá nhân, tổ
chức.
+ Các cá nhân/hiệp hội bảo vệ trẻ em có
thể kiện vì các bé tham gia “Thách thức danh hài” là con của các “Ni cô giả
danh” nhưng họ khai là mồ côi để quyên tiền từ thiện. Các em cũng được không biết
mẹ. Tâm lý của trẻ mồ côi với trẻ có mẹ rất khác nhau, cho nên các hiệp hội bảo
vệ trẻ em có thể kiện về quyền được biết cha mẹ.
+ Cha mẹ Diễm My có thể kiện vì lợi dụng
tôn giáo không được công nhận để làm lễ xuất gia cho con mình.
+ Người dân quanh khu vực Thiền Am
có thể kiện vì chủ nhân Thiền Am dựng biển to tướng Thiền Am to tướng và mang
tính chất lừa đảo.
+
Các tín đồ phật giáo có thể kiện vì chủ nhân Thiền Am cố tình khiến người dân
nhập nhèm với Phật giáo để lừa đảo, kiếm tiền từ thiện.
+
v.v…
Ở
VN, người dân không quen với việc kiện cáo. “Vô phúc đáo tụng đình”, họ lo ngại
nếu thua kiện thì họ còn phải chịu án phí. Thế nên họ thường chỉ tố cáo với
công an.
CÁC LUẬT SƯ BÀO CHỮA CẦN XEM LẠI CÁC PHÁT BIỂU
Những phát biểu của các luật sư bào chữa rất đáng quan ngại, bởi họ làm cho đông đảo công chúng hiểu lầm rằng các bị cáo vụ Thiền Am vô tội, bị oan ức. Lẽ ra để giáo dục công dân, họ nên thừa nhận rằng bị cáo sai về mặt đạo đức nhưng có thể mức án đó quá nặng.
Nếu
như bên công tố tham gia facebook, tôi nghĩ rằng họ sẽ đưa ra được nhiều lý giải
sắc sảo. Tiếc rằng, tỷ lệ dân trí thấp ở VN quá lớn, cộng thêm rất đông những
người mang nặng thù hận, và những người ở hải ngoạt yếu kém về hiểu biết pháp
luật nhưng rất hăng say can thiệp vào công việc của nước khác. Thế nên họ rất dễ
bị ném đá, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc cho nên họ cũng chẳng muốn tham
gia.