Sunday, August 24, 2025

SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA PHƯƠNG TÂY

(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Năm 1999, Yeltsin bị thất sủng nặng nề và đứng trước nguy cơ bị truy tố. Tội lỗi của ông ta không chỉ là quản lý kinh tế yếu kém mà chủ yếu là vì theo đuôi phương tây, bắn súng lục vào quá khứ. Yeltsin cấm đảng cộng sản hoạt động, phủ nhận các thành tựu của Liên Xô, không tôn vinh đúng mức chiến thắng của của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Hậu quả thật cay đắng, Liên Xô tan rã. Nước Nga mất quá nhiều đất đai. 25 triệu người Nga bỗng dưng biến thành người nước khác. Từ chỗ là cường quốc thứ 2 thế giới, Liên Xô sụp đổ, chỉ còn một nước Nga hỗn loạn và nghèo đói.

 

Yeltsin cũng dần dần vỡ mộng bởi dần dần hiểu ra phương tây không hề mong muốn nước Nga trở thành một quốc gia dân chủ hùng mạnh mà chỉ muốn Nga suy yếu tan rã. Bất chấp việc Yeltsin can ngăn NATO không mở rộng biên giới sang phía đông dẫn đến uy hiếp quốc phòng Nga, Clinton lạnh lùng từ chối. (Điều này chính Clinton tiết lộ trong cuốn hồi ký Đời tôi).

 

Chỉ trong vòng một năm rưỡi, Yeltsin thay 5 thủ tướng liên tiếp, nhằm tìm người kế vị giúp mình tránh bị truy tố. Putin là người thứ 5. Bất chấp sự nghi ngờ của giới chính trị gia, Yeltsin đã giúp Putin ngồi vào ghế tổng thống. Và đó là lựa chọn đúng đắn nhất cuộc đời ông ta.

 

Putin gọi sự sụp đổ của Liên Xô là "thảm hoạ địa chính trị lớn nhất của thế kỷ 20". Thật kỳ lạ, bởi vì thảm hoạ xảy ra nhưng không ai bị trừng phạt. Không ai phải chịu trách nhiệm. Mặc dù sự sụp đổ đó rõ ràng không phải do thiên tai.

 

Còn ai khác, nếu không phải Gorbachov, Yeltsin phải chịu trách nhiệm về thảm hoạ đó? Nhưng nếu truy tố Gorbachov, không lẽ lại không truy tố Yeltsin, kẻ trực tiếp gây ra thảm hoạ nhưng cũng chính là ân nhân của Putin? Putin không thể làm điều đó. Thế nên tôi tin tưởng sâu sắc rằng, sẽ đến một ngày sau khi Putin rời ghế, hai kẻ tội đồ đó bị lôi ra phán xét.

 

Putin nói rằng ông là tổng thống của mọi người Nga. Ông khôi phục lại nhiều giá trị của Xô Viết. Quốc ca Nga hiện nay lấy nhạc là quốc ca Liên Xô, chỉ thay lời. Nhiều bài hát thời Liên Xô lại trở thành bài hát của các lực lượng Nga. Ông cho phép đảng cộng sản hoạt động trở lại và kỷ niệm long trọng Ngày chiến thắng Phát xít Đức. Ông biết cách trân trọng quá khứ. Đó là lý do ông được người Nga yêu quý, và duy trì ghế tổng thống đến tận bây giờ.

 

Bản thân tôi nghĩ rằng nước Nga có nền tảng dân trí, văn hoá, kinh tế khá cao. Thế nên chuyển đổi thành quốc gia đa nguyên đa đảng cũng hợp lý. Tuy nhiên, có nhiều cách chuyển đổi êm ả, chứ không đau đớn và mất mát quá nhiều như vậy. Trên thực tế, hai gã bất tài Gorbachov và Yeltsin đã để cho Liên Xô rơi tự do.

 

*****

 

Vô số kẻ nông cạn thường tuyên truyền rằng Liên Xô sụp đổ là minh chứng rõ ràng cho sự thất bại của chủ nghĩa cộng sản (CNCS) và khẳng định sự ưu việt của chủ nghĩa tư bản (CNTB). Tiếc rằng những người làm tuyên giáo đã không giải thích thoả đáng khiến cho luận điệu đó cứ lan tràn mãi.

 

Lời khuyên của tôi là luôn luôn so sánh sự sụp đổ của Liên Xô với sự sụp đổ của phương tây. Chủ nghĩa nào cũng có nhiều ưu điểm, nhược điểm và đã phải cải tổ rất nhiều.

 

1. CNTB đã ra đời từ thế kỷ thứ 16 và dần dần càng bộc lộ nhiều sự bệnh hoạn: kích thích chủ nghĩa đế quốc, xâm lược thực dân, buôn bán nô lệ, bắt người da đen qua châu Mỹ làm nô lệ, đàn áp bức hại người bản địa ở châu Mỹ, châu Úc để ăn cướp đất đai.

2. Ngay ở phương tây, người lao động bị bóc lột tàn tệ. Phải làm việc từ 12-16 tiếng một ngày, trong môi trường tồi tệ. Trẻ em 7-8 tuổi cho chí người già cũng phải lao động cực nhọc.

3. Đấy là lý do, CNCS xuất hiện và được đón chào nồng nhiệt ở ngay chính các nước tư bản. Nhiều dân tộc thuộc địa thì coi đó như là học thuyết cứu tinh.

4. Chính vì sự đấu tranh của những người cộng sản cho nên giới tư bản đã buộc phải cải tổ, cải thiện điều kiện việc làm và bảo vệ quyền lợi của người lao động.

5. Cách mạng tháng 10 Nga đã kích thích phong trào giải phóng dân tộc lan tràn khắp thế giới dẫn đến sự sụp đổ tan nát của phương tây. Nước Anh từ chỗ “mặt trời không bao giờ lặn” đã bị mất hết thuộc địa, quay trở về với hòn đảo bé tí. Một loạt các quốc gia Tây Âu như Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng bị đánh đuổi phải từ bỏ các thuộc địa, mất hết quyền lợi ở các xứ đó. Bản thân nước Mỹ phải chấm dứt nạn phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính; bị đánh thua tan tác, mất uy tín ở khắp nơi trên thế giới.

 

Chỉ tính riêng thế kỷ 20, phương tây đã bị mất mát quá nhiều, cả về đất đai, tài nguyên, lẫn vị thế quốc tế. Điều rõ ràng là CNTB đã phải cải tổ quá nhiều.

 

Hầu hết các quốc gia ngày nay đều kết hợp của cả CNTB và CNCS. 

 

Lo ngại về học bổng Fulbright?

 (Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Gần đây, một số người tuyên truyền rằng học bổng Fulbright là nguồn đào tạo gián điệp, chuẩn bị cho cách mạng mầu. Những người này thường không biết gì về hệ thống giáo dục Mỹ, cũng không biết gì về chính trị đối lập, nhưng mang sẵn định kiến trong đầu. Có nhiều người thậm chí không biết gì về khoa học xã hội và nhân văn. Cứ nghe chuyện thanh niên VN đến Mỹ học các ngành này là họ thấy khó chịu. Thế nên, tôi muốn giải thích một chút về những chuyện này.

 

 

A.  SƠ LƯỢC VỀ HỌC BỔNG FULBRIGHT

 

Quỹ học bổng Fulbright ra đời từ năm 1946. Mỗi năm quỹ này cấp khoảng 8000 học bổng (bao gồm khoảng 1600 học bổng cho sinh viên Mỹ, 1200 cho học giả Mỹ, 4000 sinh viên nước ngoài, 900 học giả, và vài trăm giảng viên và chuyên gia[1]. Tính đến nay, đã có khoảng 632,000 người Mỹ và các nước trên thế giới đã nhận học bổng này (trong đó, 410,800 người đến từ nước khác trên thế giới). Học bổng Fulbright là một trong những học bổng nổi tiếng nhất thế giới. 43 fulbrighter đã trở thành tổng thống/thủ tướng các quốc gia/vùng lãnh thổ; 62 fulbrighter từ 15 quốc gia được giải Nobel; 80 fulbrighter được giải MacArthur (giải dành cho thiên tài), và 90 fulbrighter được giải Pulitzer[2]. 

 

Với bảng thành tích như vậy, việc quy chụp học bổng Fulbright có mục đích chuẩn bị lực lượng cho cách mạng mầu rất khôi hài. Một trong những tiêu chí quan trọng để được học bổng Fulbright là có tố chất lãnh đạo, dẫn đầu về một lĩnh vực nào đó, có ý tưởng độc đáo phục vụ cộng đồng, hoặc có tiềm năng tạo ảnh hưởng tương đối khá trong xã hội. Chính vì vậy những người là lãnh đạo trung, cao cấp trong các cơ quan nhà nước, có triển vọng thăng tiến dễ được học bổng này. Các nhà khoa học và những trí thức đã có một số thành tựu cũng dễ được học bổng. Thế nên không có gì khó hiểu, nhiều cựu Fulbrighter đã vươn tới những giải thưởng lớn và những vị trí lãnh đạo quan trọng của quốc gia. Nói rằng nước Mỹ thực dụng, cố gắng gây ảnh hưởng lên các nước khác trên mọi lĩnh vực thông qua Fulbright thì đúng. Nhưng nói rằng có thể kết hợp những thành tích rất khó ấy với mục đích đào tạo gián điệp thì…tôi không biết cần phải nói gì nữa.

 

Nhiều người rất sợ chữ “gây ảnh hưởng” lên các nước khác, đặc biệt là những người không có kiến thức về khoa học xã hội & nhân văn. Thật ra nước nào cũng cố gắng “gây ảnh hưởng” lên nước khác. Ảnh hưởng đó bao gồm tạo ra hình ảnh thân thiện, khiến cho người dân nước khác hiểu và quý mến nước mình. Đào tạo cán bộ, để có cơ hội mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực: kinh tế, xã hội, khoa học, quân sự v.v.

 

Trước 1990, Mỹ chưa có chủ trương thu hút người nước ngoài đến Mỹ học tập, làm việc. Thậm chí họ còn duy trì các chính sách kỳ thị sắc tộc, giới tính. Phụ nữ và người da màu khó kiếm việc tốt ở Mỹ. Học bổng Fulbright là một trong những nguồn quan trọng nhất để du học Mỹ. Từ sau Thế chiến II đến nay, mới có tổng cộng 410,800 người nước ngoài du học, nghiên cứu, giảng dạy ở Mỹ bằng học bổng này. Nhưng từ 1990 đến nay, chính phủ Mỹ thay đổi quan điểm. Họ tăng cường thu hút du học và nhân tài đến Mỹ làm việc. Việc mở cửa cũng kéo theo nhiều người đến Mỹ công tác, làm nhân viên của các chi nhánh của các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế. Các nước cũng nô nức gửi người đến Mỹ học tập, công tác. Thế nên đã có vài chục người đến Mỹ học tập, công tác.  Năm học 2022-2023, số sinh viên quốc tế học tập ở Mỹ là 858,395 người (bậc đại học là 347,602, sau đại học là 467,027, và du học không lấy bằng 43,766)[3]. Năm học 2022-2023, tổng số du học sinh VN ở Mỹ là 21,900 (trong đó số sinh viên đại học là 14,295, sau đại học là 3,768 [4]). Tính từ 1975 đến nay, đã có tổng cộng vài trăm nghìn người Việt du học Mỹ từ bậc đại học trở lên. Trong khi đó, tổng số người Việt là Fulbrighter từ sau 1975 đến nay mới chỉ khoảng hơn 1000 người. Có vài chục loại học bổng để người Việt du học, nghiên cứu, giảng dạy ở Mỹ. Fulbright chỉ là một trong số đó. Thật ra, hiện nay đại đa người Việt du học Mỹ nhờ các học bổng của của trường, các dạng công việc kiểu như trợ lý giảng dạy, trợ lý nghiên cứu có lương. Số người Việt nhận học bổng Fulbright hàng năm khá nhỏ, tổng cộng mỗi năm chỉ khoảng 40-50 người. Không có lý do gì chính đáng để lo ngại các Fulbrighter hơn những người khác đã từng học tập, công tác ở Mỹ.

 

Theo đại sứ Vũ Quang Minh: “Thượng nghị sỹ William Fulbright là người đã phản đối mạnh mẽ cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, ủng hộ chủ nghĩa đa phương trong quan hệ quốc tế, ủng hộ LHQ và thúc đẩy thành lập lực lượng gìn giữ hoà bình. Ông cũng là người phản đối chính sách chống cộng cực đoan của một số lực lượng chính trị Mỹ, phản đối chính sách truy lùng và đàn áp những người bị coi là thân cộng sản ở Mỹ. Ông đã sáng lập chương trình học bổng trao đổi học thuật mang tên ông”.

 

B.  NHỮNG VÍ DỤ ĐỂ BÔI NHỌ CÁC FULBRIGHTER

 

Gần đây nhiều người trên Internet phổ biến một bài viết về ba ví dụ ở Chile, Bangladesh, và Liên Xô dưới đây. Tác giả dùng ba ví dụ này để minh hoạ rằng các fulbrighter là lực lượng chuẩn bị cho cách mạng mầu. Tuy nhiên, cả ba đều không thuyết phục.

 

1.    DỰ ÁN CHILE: Có 26 sinh viên Chile đã được đào tạo tại đại học Chicago từ năm 1956 đến năm 1964 để trở thành các chuyên gia kinh tế. Tác giả bài viết cho rằng 26 sinh viên này chính là lực lượng này là nòng cốt trong cuộc đảo chính năm 1973, lật đổ Tổng thống dân cử Salvador Allende để dựng lên chế độ độc tài Augusto Pinochet???

 

Lập luận như vậy là sai. Chile vốn là một quốc gia dân chủ, đa đảng lâu đời. Allende được người dân Chile bầu lên một cách dân chủ. Tuy nhiên, ông này ủng hộ chủ nghĩa Marx, và trở thành tổng thống ở thời kỳ Mỹ coi chủ nghĩa cộng sản là hiểm hoạ. Đó là lý do Mỹ quyết tâm lật đổ Allende năm 1973. Quân đội Chile chính là nhóm lật đổ. Không có chuyện 26 nhà kinh tế “trói gà không chặt” dính dáng đến vụ đảo chính này.

 

Mỹ là quốc gia mạnh nhất thế giới về kinh tế học, với 70% số giải Nobel kinh tế. Ngành kinh tế không có Hội nghị Toàn thể cứ mỗi 4 năm kiểu như ngành toán, bởi vì hội nghị thường niên của ngành kinh tế Mỹ chính là hội nghị quan trọng nhất của ngành, quy tụ các nhà kinh tế trên khắp thế giới hàng năm. Chile lại rất gần Mỹ. Các nhà kinh tế Chile không học ở Mỹ thì còn phải học ở đâu nữa? Cả thế giới đã chuyển sang kinh tế thị trường, kể cả VN, cho dù VN không hề có đảo chính. Hiện nay đa số các chương trình đào tạo kinh tế học ở các trường đại học VN đều sử dụng các tài liệu của Mỹ. (Không phải là tài liệu của Trung Quốc hay Nga. Bởi lẽ, về kinh tế, hiện nay sinh viên Trung Quốc, Nga, và cả thế giới cũng học tài liệu của Mỹ). Chỉ các môn như triết học, VN hiện nay dùng tài liệu của Trung Quốc và Nga. Thế nên, 26 nhà kinh tế Chile áp dụng lý thuyết của Mỹ sau khi Pinochet lên cầm quyền có gì đáng ngạc nhiên?

 

Quan trọng là chỉ nên tính THỜI ĐIỂM ĐẢO CHÍNH. Những ai đã trực tiếp đóng góp quan trọng vào đảo chính? Còn sau khi có đảo chính, ai thăng tiến, áp dụng lý thuyết gì không phải là điều quan trọng nữa. 26 nhà kinh tế có biết cầm súng đâu mà lại gán cho họ tham gia đảo chính? (Chưa nói đến việc ai trong số này được học bổng Fulbright???).

 

2.    MUHAMMAD YUNUS Ở BANGLADESH: Thời trẻ, Yunus từng làm chuyên gia trong Uỷ Ban Kế hoạch của Chính phủ Bangladesh. Tuy nhiên, do thấy công việc đó nhàm chán, ông bỏ việc và trở thành giáo sư đại học và dành cả cuộc đời để phát triển hệ thống ngân hàng tín dụng vi mô. Đấy là mô hình ngân hàng hoàn toàn mới trên thế giới. Cho người nghèo vay không cần thế chấp. Thế nên việc đảm bảo cho hệ thống ngân hàng đó tồn tại và phát triển được vô cùng vất vả. Vậy mà ông ấy làm được và đem lại lợi ích cho hàng chục triệu người nghèo Bangladesh. VN cũng phải học tập mô hình này của ông. Giới nghiên cứu kinh tế khắp thế giới đều biết những cống hiến của ông ấy từ rất lâu rồi. Việc ông ấy được giải Nobel Hoà Bình, Huân chương Tự do của Mỹ là hoàn toàn hợp lý. Mẹ Teresa cũng được hai giải thưởng này.

 

Nếu Yunus ham thích chính trị thì ông sẽ phải tiếp tục làm việc trong bộ máy nhà nước để tìm cách leo cao từ thời trẻ. Sau khi Bangladesh đảo chính, tổng thống Bangladesh cử ông này làm thủ tướng tạm quyền. Chuyện này dễ hiểu, bởi Yunus là người Bangladesh duy nhất được giải Nobel. Mô hình tín dụng vi mô của ông đã giúp cho hàng chục triệu người nghèo cho nên uy tín của ông ở Bangladesh rất lớn. Mỹ nào cử một ông già 84 tuổi lên cầm quyền, nhỡ được vài tháng ông ý lăn ra ốm liệt giường?

 

Điều quan trọng là chỉ nên tính đến THỜI ĐIỂM ĐẢO CHÍNH. Một cá nhân hoặc tổ chức đóng góp tích cực trực tiếp như thế nào vào việc đảo chính? Còn sau khi đảo chính, cái gì xảy ra không còn quan trọng nữa. Bangladesh có hàng triệu người thích Mỹ, không người này lên thì sẽ có người khác.

 

Một số người không có kiến thức về chính trị đối lập còn gọi Yunus là “thủ lĩnh sinh viên” (?). Đám thanh niên trẻ làm đảo chính trực tiếp cộng tác với nước ngoài, bởi vì nước ngoài cung cấp cho họ tiền bạc, danh tiếng, cơ hội tị nạn chính trị nếu họ bị truy tố. Họ làm đảo chính vì họ ham trở thành anh hùng, là “những người lãnh đạo cách mạng”. Ngược lại, đám “thầy dùi” ở hải ngoại chiều đám bạo loạn trong nước như “chiều vong”. Người già thì đóng góp được gì đảo chính? Không có chuyện già, trẻ phối hợp nhau làm đảo chính, bởi vì đám trẻ vốn coi thường đám già. Đám “thực hành” vốn không ưa đám “lý thuyết”.

 

Thời cách mạng vô sản ngày xưa hoàn toàn khác. Ngày xưa các nhà tư tưởng tranh luận với nhau rất nhiều, rồi mới hoàn thiện các lý thuyết. Sau đó, câc nhà hoạt động đem các lý thuyết đó ứng dụng để làm cách mạng. Các nhà hoạt động làm cách mạng thành công xong vẫn treo ảnh, ca ngợi các nhà tư tưởng như Marx, Elgel. Lý tưởng đánh đuổi ngoại xâm, giành độc cho dân tộc rất cao đẹp, mạnh mẽ cho nên được đông đảo người dân ủng hộ. Nhưng ngày nay, khoa học xã hội đã phát triển khủng khiếp. Các chuyên gia học hỏi đến già, thường xuyên trao đổi trong cộng đồng chuyên gia, vẫn không dám chắc chắn về hiểu biết của mình. Đám trẻ nổi loạn ngày nay bị kích động bởi lý tưởng dân chủ, nhân quyền hời hợt của phương tây. Chúng hoang tưởng là chúng có khả năng hiểu được các vấn đề chính trị quan trọng của quốc gia.  Tất cả đám trẻ ấy đều nông cạn, sùng bái phương tây mù quáng, coi thường các chuyên gia trong nước theo chủ nghĩa dân tộc. Đấy là đám bất nhân, bất nghĩa, dốt nát cho nên sẵn sàng câu kết với ngoại bang, chửi bới tiền nhân, đạp lên thành quả của cha ông để chứng tỏ bản thân. Họ làm cách mạng là để công chúng phải ca ngợi họ. Không có chuyện đám trẻ tôn vinh một ông già làm thủ lĩnh. Không có chuyện họ nghe lời một ông già, người không có khả năng đem lại cái gì cho họ. Mâu thuẫn trong nội bộ giới chính trị đối lập ngày nay, đặc biệt là mâu thuẫn trẻ-già và mâu thuẫn giữa “giới lý thuyết”-“giới hoạt động” là không thể dung hoà.

 

Có một số người nói rằng “Mỹ nuôi Yunus” để đợi ngày đảo chính (?) Ở mọi quốc gia, con đường thăng tiến về chính trị rất bấp bênh. Xưa nay, việc “nuôi gián điệp” luôn đòi hỏi gián điệp đó có những hành vi phá hoại hoặc cung cấp thông tin mật cho nước ngoài. Không có chuyện một gián điệp nào đó mấy chục năm không làm gì, nằm “há miệng chờ sung” để trở thành lãnh đạo quốc gia. Thậm chí Yunus đã từ bỏ phấn đấu theo con đường chính trị từ thời trẻ, để làm giáo sư, làm ngân hàng.

 

Nói vắn tắt, đến giờ phút này không bằng chứng gì về việc Yunus làm tay sai cho Mỹ. Nói rằng ông ta là nhân tố của cách mạng mầu ở Bangladesh là không có cơ sở. Banladesh vốn là nước dân chủ đa đảng, đại nghị. Nếu việc chuyển giao quyền lực từ đảng nọ sang đảng kia êm ả thì không có gì đáng bàn. Điều duy nhất khiến chúng ta quan tâm là họ chuyển giao quyền lực bằng đảo chính. Thế nên, quan tâm đến bạo loạn, cách mạng màu thì chỉ nên quan tâm đến những người đóng góp trực tiếp và đáng kể để tạo ra các vụ bạo loạn, đảo chính đó thôi.

 

 

3.    YAKOVLEV Ở LIÊN XÔ:

 

Nhiều người lan truyền truyền thuyết rằng Yakovlev là gián điệp của Mỹ và đóng góp chính khiến Liên Xô sụp đổ. Yakovlev học về Lịch sử (chứ không phải kinh tế) ở Mỹ một năm, sau đó làm đại sứ ở Canada 10 năm.

 

+ Vai trò phá hoại lớn nhất, kinh khủng nhất là Gorbachov. Ông này đã bổ nhiệm, cài cắm hàng trăm người ủng hộ đường lối Cải tổ, Công khai hoá của ông ta vào các vị trí lãnh đạo cao cấp. (Trích cuốn Hồ sơ quyền lực Gorbachev: “Tổng cộng, Gorbachev đã thay 14 trong 23 lãnh đạo các ban trong Ban Bí thư. Không một nhà lãnh đạo nào trước đây thay đổi nhiều nhân sự trong bộ máy Nhà nước và Đảng như vậy trong năm cầm quyền đầu tiên. Ở Liên bang Nga, 24 bí thư thứ nhất tỉnh ủy và khu ủy đã bị thay đổi, cũng như 23 trong số 78 người trong các nước cộng hòa không phải Nga (thuộc các nước cộng hòa khác trong Liên Xô). Trong số 14 bí thư thứ nhất của các đảng cộng sản ở các nước cộng hòa, có bốn người mới. Trong Chính phủ, 39 trong số 101 bộ trưởng Xô viết bị sa thải. Trên toàn quốc khoảng một phần năm tổng số quan chức ở các cơ quan Đảng quan trọng nhất bị mất chức và số lượng các quan chức chính phủ bị sa thải hoặc bị thuyên chuyển công tác phải lên đến hàng nghìn”.)

+ Gorbachev đưa ra chế độ bầu cử tổng thống, loại bỏ sự can thiệp của Đảng vào quá trình quản lý kinh tế, triệu tập một Đại hội Đại biểu Nhân dân và tiến hành bỏ phiếu cạnh tranh.

+ Tại Liên Hợp Quốc, Gorbachev tuyên bố Liên Xô cắt giảm lực lượng vũ trang xuống 500 nghìn quân trong vòng 2 năm mà không đòi phải có động thái đáp lại của Mỹ hay đồng minh của Mỹ.

+ Ngày 5/2/1990, Trong phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, Gorbachev đề nghị bỏ hẳn vai trò lãnh đạo của Đảng (Điều 6 của Hiến pháp Liên Bang Xô viết), chấp nhận hệ thống đa đảng và thông qua “chủ nghĩa xã hội dân chủ và nhân văn”. Những điều này được chấp nhận vào ngày 7/2, sau một cuộc tranh cãi kịch liệt.

 

Nói vắn tắt, sự sụp đổ của Liên Xô có công sức hàng đầu và kinh khủng nhất của Gorbachov cùng với hàng trăm quan chức cao cấp. Những người này không có liên quan gì đến Mỹ hay Fulbright. Nhân vật đặc biệt nguy hiểm thứ hai sau Gorbachov là ngoại trưởng Shevardnadze. Shevardnadze là người bị giới quân sự thông báo sẽ treo cổ một ngày nào đó “vì tội quy phục Mỹ”. Yakovlev chỉ là một trong số đó. Việc phóng đại vai trò của Yakovlev trong việc Liên Xô tan rã nghĩa là từ chối thừa nhận nền chính trị Liên Xô khi ấy có quá nhiều “lỗi hệ thống” nghiêm trọng, và vai trò phá hoại của hàng trăm người khác, (những người không liên quan gì đến Fulbright).

 

 

C.  CÓ NÊN LO NGẠI CÁC FULBRIGHTER?

 

Trước tiên, tôi muốn nói về quy trình tuyển học và du học bằng học bổng Fulbright. Học bổng Fulbright bậc thạc sĩ là một trong những học bổng cạnh tranh nhất ở VN. Sau khi được chính thức lựa chọn, những người được học bổng Fulbright sẽ phải tự chọn chương trình học ở Mỹ, và tự nộp hồ sơ. Sau khi được một số chương trình chấp nhận cho họ vào học, các fulbrighter mới làm việc lại với Quỹ học bổng Fulbright để chốt điểm đến cuối cùng. Những người nhận học bổng Học giả Fulbright thì có thể liên hệ với các trường ở Mỹ trước hoặc sau khi có học bổng. Cần nhấn mạnh là các chương trình nhận các Fulbrighter đến học tập, nghiên cứu, giảng dạy đều là các chương trình xếp hạng cao hoặc khá ở Mỹ về mặt học thuật. Giảng viên của các chương trình này là những người có thành tích cao về nghiên cứu học thuật. (Đương nhiên, các chương trình đó hoàn toàn khác với các chương trình đào tạo ngắn hạn về chính trị đối lập, với giảng viên là các nhà hoạt động chính trị, hoạt động nhân quyền).

 

1.    Không có lý do để lo ngại các Fulbrighter hơn những người khác:

+ Các trường đại học nơi Fulbrighter học tập, công tác không phải là các trung tâm của CIA:  Các giảng viên được tuyển chọn giảng dạy ở các nơi đó đều có các thành tích cao về học thuật. Đương nhiên có một số rất rất nhỏ những người làm việc cho CIA, hoặc có ác cảm với các quốc gia như VN. Họ cũng có thể tuyên truyền một số điều lệch lạc theo quan điểm của họ. Tuy nhiên, về nguyên tắc họ vẫn phải giảng dạy đầy đủ lý thuyết và thực tiễn chuyên môn, dạy học viên tư duy đa chiều, tự nghiên cứu tài liệu. Chính vì được giảng dạy đầy đủ lý thuyết, tư duy đa chiều, tự nghiên cứu tài liệu cho nên học viên không dễ bị kích động. Ngoài ra mỗi học viên phải học vài chục môn học với nhiều giảng viên khác nhau.

+ Nếu có giảng viên nào đó giảng dạy những nội dung lệch lạch thì đó chỉ là muối bỏ bể so với hàng triệu thông tin lề trái đầy rẫy trên Internet. Trên thực tế, những giảng viên như vậy chỉ là thiểu số rất nhỏ.

+ Những giảng viên tuyên truyền nhiều quan điểm chính trị cực đoan cũng dễ bị các nhóm sinh viên, phụ huynh, và các nhóm chính trị (ví dụ các nhóm sinh viên cánh tả) tẩy chay, gây áp lực đuổi việc.

 

2.    Nếu lo ngại thì phải cảnh giác với tất cả những người du học, công tác ở Mỹ:

+ Thời kỳ Yacovlev du học Mỹ, Liên Xô đóng cửa với phương tây, không chủ trương đưa người sang phương tây học tập. Phương tây cũng chưa có chủ trương thu hút nhân tài từ các nước kém phát triển và từ các nước đối thủ. Học bổng Fulbright là nguồn hiếm hoi và quan trọng để du học ở Mỹ. Thế nên trường hợp Yacovlev bị chú ý vì khá hiếm người Liên Xô đi du học Mỹ. (Suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, chỉ có khoảng vài trăm đến vài nghìn người). Tuy nhiên ngày nay, các nước đua nhau gửi quan chức, cán bộ, sinh viên đến Mỹ học. Tập Cận Bình cũng gửi con gái học ở Mỹ khi ông đã là phó chủ tịch nước. Hun Sen cũng cho tất cả các con học ở Mỹ. Tính từ 1991 đến nay, Trung Quốc và Nga đã có hàng triệu người học tập, công tác ở Mỹ. VN cũng có vài trăm nghìn người. Trong khi đó số Fulbrighter tính từ 1975 đến nay tổng cộng mới khoảng 1000 người. Từ 1990s đến nay, đại đa số người đến Mỹ du học bậc thạc sĩ, tiến sĩ dưới dạng học bổng của trường đại học hoặc làm trợ giảng, trợ lý nghiên cứu có lương (không liên quan gì đến Fulbright). Ngoài ra có vài chục loại học bổng khác với Fulbright.

 

3.    Những người bất mãn chế độ là ai?

+ Nguy cơ một người học tập, công tác ở Mỹ trở thành bất mãn, thậm chí cộng tác với các tổ chức chống chế độ là có thật. Nhưng đó là nguy cơ đối với tất cả những người du học, công tác ở Mỹ, chứ không riêng gì Fulbrighter. Động lực chủ yếu biến họ trở thành bất mãn là các tài liệu, video clip đầy rẫy trên Internet, các liên hệ với giới bất mãn chế độ và giới chính trị gia ở Mỹ.

+ Nguy cơ không chỉ ở Mỹ mà đến từ tất cả các nước khác: Chỉ tính 15 năm trở lại đây, có đến 5, 6 đại sứ, lãnh đạo ngoại giao, thậm chí UVTW, về hưu bỗng dưng diễn biến hoà bình. Có cán bộ phụ trách lãnh sự nghỉ hưu chạy ra nước ngoài tị nạn. Tất cả đều không liên quan gì đến Fulbright, thậm chí không ai học ở Mỹ. Tập hợp Thanh niên Dân chủ ra đời ở Pháp. 72 người đòi thay đổi hiến pháp hay 127 trí thức viết thư ngỏ đòi cải tổ chính trị, chả liên quan gì đến Fulbright, thậm chí không liên quan gì đến Mỹ. Từ 1975 đến nay đã có hàng nghìn người quốc tịch VN công khai chống phá chế độ, nhưng tuyệt đại đa số không liên quan gì đến Fulbright. Tuyệt đại đa số được đào tạo ở Liên Xô, Đông Âu, Việt Nam, Trung Quốc.

+ Không có bằng chứng nào cho thấy những người học tập ở Mỹ, đặc biệt là fulbrighter, dễ diễn biến hoà bình hơn những người không học. Thực tế cho thấy, đội chống phá VN điên cuồng nhất là những người không hề được đào tạo chính quy ở phương tây. Thiếu hiểu biết về phương tây khiến họ có nhiều hoang tưởng về tự do, về nhân quyền ở các xứ đó. (Không tính đến các khoá đào tạo chính trị đối lập ngắn hạn, chủ yếu được tổ chức ở các nước gần VN).

+ Gần đây, có một số quan chức VN là fulbrighter bị kỷ luật. Nhưng cũng giống như hàng nghìn quan chức khác, lý do bị kỷ luật là nghi ngờ dính đến tham nhũng hoặc các vấn đề khác, chứ không liên quan đến diễn biến hoà bình.

 

4.    Làm thế nào để biến một người bình thường trở thành chống phá chế độ:

Từ 1990 đến nay, sau khi bình thường hoá quan hệ với Mỹ, đã có vài trăm nghìn người Việt đến Mỹ học tập, công tác. Giới chính trị hải ngoại không có sức để quan tâm đến tất cả.

+ Đối với những bình thường đi Mỹ du học hoặc công tác (nghĩa là những người không có tiềm năng trở thành lãnh đạo trung/cao cấp ở nhà nước, hoặc có ảnh hưởng tương đối lớn trong xã hội VN): chỉ những người thường xuyên tỏ ra bất mãn chế độ hoặc có hành động phản kháng hơn mức bình thường thì mới được giới chính trị hải ngoại “chăm sóc đặc biệt” để lôi kéo họ trở thành đối lập. Ví dụ: những người thường xuyên viết bài chỉ trích các cá nhân, tổ chức; những người nhiều lần dám chỉ trích đường lối của đảng cộng sản; những người giữ vai trò admin, moderator của các website chính trị đối lập; hoặc nhiều lần tham gia các hoạt động của đội cờ vàng (chẳng hạn như đi biểu tình). Ở đây nhấn mạnh chữ “thường xuyên”, bởi những người năm thì mười hoạ mới thể hiện sự bất mãn thì cũng không được ai quan tâm.

+ Đối với những người (có tiềm năng) là lãnh đạo trung, cao cấp ở khu vực công, hoặc có (tiềm năng) ảnh hưởng tương đối lớn trong xã hội đi du học hoặc công tác: Số người này không nhiều cho nên được giới chính trị hải ngoại tiếp cận, thăm dò quan điểm nhiều hơn. Một số rất nhỏ những người người kém hiểu biết chính trị, có cá tính ngông cuồng, thì cũng dễ bị kích động trở thành bất mãn, thậm chí làm tay sai, gián điệp cho ngoại bang. 

 

Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh là không chỉ đi Mỹ mới như vậy mà đi các nước phương tây khác cũng vậy. Ai am hiểu về chính trị đối lập đều biết các tổ chức đối lập chống phá VN tập trung nhiều nhất là ở các nước láng giếng (Thái Lan, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Úc), các nước SNG cũ và châu Âu (Pháp, Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc).

 

 

D.      TIÊN TRÁCH KỶ, HẬU TRÁCH NHÂN

 

+ Gorbachov giữ vai trò hàng đầu, quan trọng nhất trong sự sụp đổ của Liên Xô. Chính ông ta đã cài cắm hàng trăm quan chức, lãnh đạo cao cấp đồng tình với các quan điểm dân chủ hoá, công khai hoá của ông ta từ trung ương đến địa phương. Không có Gorbachov thì Yakovlev cũng không làm gì được, bởi ông ta đã được KGB lưu ý và ngăn chặn làm UVTW trong các đời tổng bí thư trước Gorbachov. Yakovlev chỉ là một trong hàng trăm lãnh đạo cao cấp góp phần khiến Liên Xô sụp đổ.

+ Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến Liên Xô sụp đổ là do không tiến hành kinh tế thị trường và mở cửa với thế giới sớm hơn. Bởi nếu chuyển đổi kinh tế thị trường sớm hơn khoảng 1 thập kỷ thì các quan chức cao cấp, và ngay cả Gorbachov sẽ thấy được những thành tựu đổi mới sớm, và không cho rằng đổi mới kinh tế phải đi liền với đổi mới chính trị.

+ Từ sau thế chiến II đến nay, mới có khoảng 410,800 fulbrighter đến từ các quốc gia ngoài Mỹ, nhưng có đến vài chục triệu đã từng học tập, công tác ở Mỹ. Không có lý do gì để lo ngại các fulbrighter hơn những người khác đã học tập và công tác ở Mỹ, và các quốc gia phương tây khác. Không có bằng chứng các nhà kinh tế thuộc Dự án Chile hoặc Muhammad Yunus trực tiếp đóng góp phần quan trọng vào đảo chính ở Chile và Bangladesh.

+ Việc học tập ở Mỹ và phương tây đem đến rủi ro là một số người sẽ trở thành tay sai, gián điệp cho ngoại bang. Bù lại, những kiến thức khoa học và văn minh ở các quốc gia đó rất hữu ích để phát triển VN. Tất cả các quốc gia, kể các nước mà Mỹ coi là kẻ thù như Trung Quốc, Nga đều gửi vô số thanh niên, cán bộ đến Mỹ học tập. Chẳng có lý do gì VN đi ngược lại xu thế ấy. Trên thực tế, những người me tây, cuồng tín nhất là những người không học tập ở phương tây. Những người đã gây ra những cơn địa chấn ở Liên Xô, Đông Âu, Michael Gorbachov, Boris Yeltsin, Lech Walesa, Vaclav Havel, hay địa chấn ở Trung Quốc như Hồ Diệu Bang, Triệu Tư Dương đều không học tập ở phương tây và càng không liên quan đến học bổng Fulbright.

 

 

[1]https://en.wikipedia.org/wiki/Fulbright_Program

[2]https://eca.state.gov/fulbright/fulbright-alumni/notable-fulbrighters

[3] https://www.statista.com/statistics/237689/international-students-in-the-us-by-academic-level/

[4]https://vnexpress.net/viet-nam-dung-top-5-ve-so-du-hoc-sinh-o-my-4676390.html

[5]https://vietnamnet.vn/diep-vien-co-anh-huong-khien-lien-xo-tan-ra-651645.html

Nhà nước nên quản lý lâu dài việc phân phối nhà ở xã hội

 Tại sao chuyện quản lý mua bán nhà ở xã hội lại khó khăn thế nhỉ. Nhiều người rất giầu nhưng vẫn tìm cách mua nhà ở xã hội để kinh doanh, trong khi vô số người trẻ đi làm cả đời cũng không đủ tiền mua nhà. Tôi có mấy ý kiến thế này:

1. Xét duyệt kỹ hồ sơ. Chỉ những người ít bất động sản và tài sản nói chung ( tính về giá trị) và đã làm việc ở khu vực đó ít nhất 5 năm mới được quyền mua noxh.

2. Danh sách khách đăng ký mua và chính thức được quyền mua noxh phải công khai trên website ubnd tỉnh hoặc phường trong nhiều năm. (Đầy đủ tên, tuổi theo cccd, và nơi làm việc).

3. Tổ chức rút thăm những người được quyền mua noxh từ danh sách những người đủ điều kiện đăng ký mua noxh.

4. Nhà nước quản lý vĩnh viễn noxh: nếu người đó mua 1 căn nhà khác có giá trị tương đối cao ở mức nào đó hoặc có những tài sản khác có giá trị, thì phải bán lại noxh cho nhà nước. Giá bán nêu ở mục 5.

5. Nếu vì lý do nào đó muốn bán lại noxh thì chỉ được phép bán cho nhà nước với giá bằng giá noxh ở thời điểm đó. Tuy nhiên, không được quyền bán noxh trong vòng 5 năm sau khi chủ hộ mua nhà.

6. Nói chung không được phép cho những người không phải là họ hàng cấp 1, 2 vào sống chung trong noxh. Trừ phi người đó cũng là đối tượng đủ điều kiện mua noxh ở khu vực đó nhưng ubnd tỉnh không đủ khả năng cho họ cơ hội mua noxh trong tương lai gần. Nhưng đó chỉ là tạm trú, không được phép chia sổ đỏ. Việc tạm trú này cũng phải được sự đồng ý của UBND cấp xã. Khi nào người tạm trú có cơ hội mua noxh thì phải ra khỏi nơi tạm trú.

7. Công an hộ khẩu, phường xã kiểm tra thường xuyên đối tượng sống ở noxh. (Đặc biệt là trong 2 năm đầu tiên). Nếu phát hiện những người không phải là người thân hàng thứ nhất, thứ 2 của chủ hộ, hoặc đối tượng nêu ở mục 6, sống ở đó trong thời gian dài thì chủ hộ sẽ bị phạt, khách bị cưỡng chế ra khỏi nhà.

8. Thừa kế, thuê mướn, tặng cho: được phép thừa kế, thuê mướn, tặng cho người thân hàng thứ nhất và thứ 2, nhưng người thân đó cũng phải đủ điều kiện sở hữu noxh. Không được phép thừa kế, thuê mướn, tặng cho với các đối tượng khác.

9. Bây giờ quỹ noxh còn quá nhỏ thì cần quy định khắt khe như vậy. Khi quỹ dồi dào thì sau khoảng 20 năm sống ở noxh, chính chủ sẽ được quyền sở hữu hoàn toàn căn nhà đó, nhà nước không quản lý nữa.

Vấn đề là nhà nước có muốn quản lý chặt hay không thôi??

 

Lãnh đạo khoa học công nghệ cũng cần am hiểu quản trị, kinh doanh

Đầu năm nay, đảng đã phá vỡ truyền thống hơn 40 năm để bổ nhiệm ông Nguyễn Mạnh Hùng, một doanh nhân có bằng MBA, nhưng không phải là tiến sĩ, làm bộ trưởng Bộ Khoa học & Công Nghệ. (Trước đó ông Hùng là Bộ trưởng Bộ Truyền thông, Thông tin.) Điều này phù hợp với xu thế của thế giới. Trong suốt giai đoạn 1982-2025, các chủ nhiệm Uỷ Ban Khoa học & Kỹ thuật và sau đó là các bộ trưởng Bộ Khoa học & Công Nghệ VN đều là giáo sư, tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, nhưng không có kiến thức về kinh tế, quản trị. Ông Hùng đã có nhiều thành tích phát triển doanh nghiệp từ thời làm lãnh đạo Viettel. Hi vọng ông sẽ gặt hái nhiều thành công trên cương vị mới.

 

Bộ trưởng Bộ khoa học & Công nghệ Trung Quốc hiện nay là Vương Chí Cương. Ông Vương có bằng cử nhân lý thuyết thông tin và tiến sĩ quản trị học, và đã từng là tổng giám đốc một tổng công ty phần mềm máy tính trước khi làm lãnh đạo các bộ ngành.

 

Bộ trưởng Trí tuệ Nhân Tạo và Công Nghệ Số của Pháp hiện nay là Clara Chappaz. Bà Chappaz tốt nghiệp trường kinh doanh Essec và có bằng MBA từ Harvard. Bà có kinh nghiệm phụ trách thương mại và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp.

 

Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu, Công nghệ và Không Gian của Đức hiện nay là Dorothee Bär. Bà Bär tốt nghiệp đại học ngành Khoa học Chính trị, và đã từng có kinh nghiệm làm nhà báo. Sau đó, bà hoạt động chính trị và từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và Cơ sở hạ tầng Kỹ thuật số, trước khi trở thành bộ trưởng.

 

Bộ trưởng Bộ Phát triển Số, Truyền thông và Đa phương Tiện của Nga hiện nay là Maksut Shadayev. Ông Shadayev tốt nghiệp ngành phát triển xã hội và đã có nhiều kinh nghiệm làm lãnh đạo doanh nghiệp và ngân hàng.

 

Bộ trưởng Bộ Chuyển đổi Số Nhật Bản là Masaaki Taira. Ông Taira tốt nghiệp cử nhân luật, đại học Waseda. Ông từng có kinh nghiệm lãnh đạo doanh nghiệp trước khi tham gia chính trường và từng là Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp.

 

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Bộ Công nghiệp và Đổi Mới Úc là Timothy Ayres. Ông Ayres tốt nghiệp chuyên ngành quan hệ công nghiệp, ngành quản lý, đại học Sydney. Sau đó ông trở thành một lãnh đạo công đoàn trước khi tham gia chính trường.

 

Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp Canada, cơ quan phụ trách chính về Đổi mới, Khoa học, và Phát triển Kinh tế của Canada, là Melanie Joly. Bà Joly là một luật gia và đã có nhiều kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tố tụng dân sự và thương mại, luật phá sản và mất thanh khoản trước khi trở thành chính trị gia.

 

Mỹ không có bộ khoa học, công nghệ cấp liên bang. Văn phòng Chính sách Khoa học Công nghệ (OSTP) là nơi chịu trách nhiệm cao nhất về chính sách khoa học, công nghệ của Mỹ. Giám đốc văn phòng này hiện nay là Michael Kratsios. Ông Kratsios được bổ nhiệm khi mới 38 tuổi. Ông tốt nghiệp ngành chính trị học, đại học Princeton. Trước khi trở thành chính trị gia, ông đã có kinh nghiệm quản lý tài chính và phát triển doanh nghiệp cho một số ngân hàng và quỹ đầu tư.

 

SAU TINH GỌN BỘ MÁY: GIẢI PHÁP CẮT GIẢM THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ TƯ NHÂN HOÁ

Mấy tháng nay, phong trào sáp nhập, tinh gọn bộ máy trở nên ồn ào, sôi động. Hôm rồi có bài báo đăng năm ngoái thu ngân sách được 1.7 triệu tỷ thì chi tiêu để nuôi bộ máy đã mất 1 triệu tỷ. (Tuy nhiên, cần so sánh với những số liệu này ở các nước khác). Thế nên sáp nhập, tinh gọn bộ máy là chủ trương đúng đắn. Mấy năm nay các cơ quan công quyền đã có nhiều biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức về hưu sớm. Ngừng tuyển dụng viên chức ở nhiều bộ phận. Hạn chế phong cấp tướng. Thế nhưng sau đó thì làm gì?

 

Vẫn những gương mặt ấy giải quyết một núi công việc, thậm chí số người sẽ giảm đi thì sẽ chỉ khiến hệ thống tăng thêm ách tắc chứ không thể khơi thông được. Hơn nữa, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của việc giảm bớt số người là để tăng lương cho cán bộ/công chức để khuyến khích họ làm việc hiệu quả hơn. Giả dụ trường hợp khả quan nhất là cắt giảm được 50% số cán bộ công chức, nhưng lại cần tăng lương công chức lên gấp đôi thì có thể chi tiêu cho bộ máy không cắt giảm được đồng nào. Đấy là chưa kể từ 2021 đến nay độ tuổi hưu tăng lên, cho nên số lượng biên chế tuyển mới sẽ phải giảm đi. Việc khó thay thế hệ già nua, giáo điều bằng thế hệ công chức/viên chức trẻ khoẻ được đào tạo kiến thức hiện đại sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bộ máy.

 

XÁC ĐỊNH CÁC THỦ TỤC, CÔNG VIỆC DÔI DƯ

 

Tiếp theo việc sáp nhập, tinh giản bộ máy là cắt giảm thủ tục hành chính dư thừa, và chuyển một số công việc ít cần bảo mật cho khối tư nhân làm. Tuy nhiên, tính chất công việc của các phòng ban mỗi bộ ngành lại vô cùng khác nhau. Thế nên chỉ những người trực tiếp làm việc ở các phòng ban ấy mới thật sự am hiểu và có khả năng ra quyết định. Chủ trương “cần cắt giảm ít nhất 1/3 số thủ tục hành chính” là ý tưởng thiếu cơ sở khoa học. Điều chắc chắn, số thủ tục, công việc cần cắt giảm, chuyển đổi của mỗi phòng ban, bộ ngành sẽ hoàn toàn khác nhau. Không thể áp đặt cứng nhắc con số 1/3 đó cho mỗi cơ sở.

 

Làm thế nào để xác định được thủ tục hành chính nào cần cắt bỏ, công việc nào cần chuyển cho khối tư nhân? Mỗi phòng ban cần thiết lập danh sách các thủ tục hành chính, công việc chuyên môn rồi tiến hành điều tra, trưng cầu ý kiến các đối tác có liên quan (v.d., công dân, các tổ chức, doanh nghiệp, chuyên gia). Lãnh đạo các phòng ban sẽ tham khảo kết quả điều tra để xác định danh sách những thủ tục, công việc cần ưu tiên giải quyết trước tiên và theo mức độ quan trọng. Đồng thời họ cần lập kế hoạch bao gồm tiến độ giải quyết các thủ tục, công việc trong danh sách đó.

 

Mỗi bộ ngành đều có các tờ báo riêng phục vụ ngành mình. Các phòng ban cần công khai danh sách các thủ tục hành chính và công việc sắp xếp theo thứ tự ưu tiên giải quyết, cùng với kế hoạch và tiến độ giải quyết trên các tờ báo đó. Các toà báo cần mở các diễn đàn tranh luận để tìm kiếm giải pháp cho các thủ tục, công việc khó khăn, phức tạp.

 

CHỐNG LÃNG PHÍ

 

Các bộ ngành cũng cần công khai danh sách các công trình bỏ hoang, đề án dang dở lãng phí, các cơ chế cồng kềnh khó giải quyết và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên về số tiền đầu tư hoặc theo mức độ ảnh hưởng đối với xã hội. Cần tiến hành điều tra các đối tác để có căn cứ xác định thứ tự ưu tiên đó. Ngoài ra, các bộ ngành cũng cần công khai kế hoạch tiến độ giải quyết các công trình, đề án, cơ chế trong danh sách ưu tiên đó trên các tờ báo ngành và mở các diễn đàn tranh luận về những hạng mục khó giải quyết.

 

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở NHẬT, HÀN, ĐÀI LOAN, TRUNG QUỐC LÀ YẾU TỐ QUAN TRỌNG GIÚP CHO CÁC XỨ NÀY HOÁ RỒNG

 Cuốn sách “Châu Á Vận hành như thế nào” (How Asia works) của Studwell rất nổi tiếng. Ở VN, chắc chắn đã có nhiều người đọc, nhất là giới nghiên cứu kinh tế, chính sách, chính trị. Vậy mà lâu nay, không ai nói về quan điểm về cải cách ruộng đất (CCRD) trong cuốn này khiến cho rất nhiều người Việt hiểu sai về CCRD. Có nhóm nghiên cứu còn tuyên truyền rằng thành công của cải cách ruộng đất ở Nhật Bản là nhờ tướng McArthur của Mỹ và không hề nhắc tới CCRD ở các quốc gia Đông Bắc Á khác. Đấy là quan điểm me tây.

 

Tác giả Studwell giải thích sự khác biệt dẫn đến thành công của các quốc gia Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật, Hàn, Đài Loan) so với Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaisia) trong thời kỳ bắt đầu phát triển là nhờ quyết liệt cải cách ruộng đất.

 

CCRD nghĩa là tước đoạt nhiều đất đai của nhóm nhỏ điạ chủ để chia cho đa số người nghèo. Triết lý ấy chắc chắn trái ngược với triết lý của chủ nghĩa tư bản vốn bảo vệ sở hữu tài sản. Studwell đã giải thích rằng chính quyền Mỹ rất không thích CCRD và cho rằng đó là tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Trên thực tế, CCRD là chính sách đúng đắn, đặc biệt là ở Đông Á, nơi mà chỉ 4-5% địa chủ sở hữu đa số ruộng đất.

Trong khi đó hầu hết nông dân rất nghèo, không có đất canh tác.

 

Ở Trung Quốc, đảng cộng sản đã bắt đầu tiến hành CCRD từ 1920 ở những vùng mà họ quản lý. Chính sách đó rất thành công, nông dân nô nức đi theo đảng cho nên quân đội của Mao liên tiếp chiến thắng và cuối cùng là đánh bại Tưởng Giới Thạch để giành quyền lãnh đạo Trung Quốc. Chính nhờ thành công của Trung Quốc mà giới học giả, chính trị gia Mỹ đã phải đem vấn đề CCRD ra bàn luận. Họ tranh cãi rất gay gắt rồi cuối cùng quyết định thử nghiệm ở Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc (thời Tưởng nắm quyền, 1948). Đó là những nơi mà Mỹ có quyền thao túng chính sách.

 

Wolf Ladejinsky, một cố vấn kinh tế người Mỹ, là người có công lớn nhất trong vận động thử nghiệm CCRD ở Đông Bắc Á, chứ không phải McArthur. Ladejinsky là người Mỹ gốc Ukraina. Ông nói về CCRD như thế này: “Tôi bắt đầu công việc này chủ yếu vì bài học học được từ kinh nghiệm trước khi tôi rời khỏi Nga vào đầu năm 1921, ấy là những người cộng sản có lẽ chẳng bao giờ có được quyền lực chính trị nếu họ không xử lý vấn đề ruộng đất một cách cương quyết, bằng cách giao đất cho nông dân”. Trên thực tế, Ladejinsky đã học hỏi kinh nghiệm CCRD từ Liên Xô.

 

Chính Ladejinsky và các cộng sự đã thuyết phục McArthur triển khai CCRD ở Nhật Bản. Mỗi điền chủ ở Nhật chỉ được phép giữ lại tối đa 3 héc ta đất. Số đất dư thừa sẽ do nhà nước quản lý và phân chia lại cho nông dân không có đất. Khoảng 2 triệu gia đình ít nhiều đã bị mất đất. Nhưng nhờ thế 4 triệu gia đình khác đã có đất nhờ chủ trương này. Nhật Bản đã tiến hành CCRD hết sức thành công, góp phần quan trọng để xoá nghèo, và tạo ra nguồn vốn giúp Nhật công nghiệp hoá.

 

Ở Trung Quốc, đến tận tháng 10/1948, chính quyền Mỹ mới tài trợ cho Tưởng Giới Thạch thử nghiệm cải cách ruộng đất. Chính sách đó được thực thi triệt để hơn ở Đài Loan sau khi Tưởng thua trận phải chạy sang quốc đảo này.

 

Ở Hàn Quốc, tư lệnh Mỹ thời kỳ 1945 phản đối kịch liệt CCRD. Tuy nhiên, Triều Tiên tiến hành CCRD rất thành công. Đa số người dân rất ủng hộ chính quyền. Chính vì vậy, sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên năm 1953, Hàn Quốc đã tiến hành CCRD và cũng khá thành công.

 

Ở VN, Ladejinsky cũng cố vấn cho Ngô Đình Diệm CCRD. Nhưng ông này không thực hiện, thậm chí làm ngược lại. Việt Minh đã CCRD, chia đất cho dân nghèo, nhưng Diệm thì tịch thu lại các đất đai đó để trả lại cho các địa chủ. Đến năm 1958, Ngô Đình Diệm đã khôi phục được kiểu sở hữu đất như thời trước chiến tranh, với 2% chủ đất sở hữu 45% đất đai và khoảng một nửa số người cày không có ruộng. Chính vì vậy mà nông dân bất mãn bỏ theo kháng chiến rất đông. Năm 1969 ông Nguyễn Văn Thiệu mới nghe lời các cố vấn Mỹ thử nghiệm chính sách “Người cày có ruộng”. Chính quyền Mỹ ủng hộ và tài trợ cho ông Thiệu thực hiện chương trình này. Sau này, nhiều Việt kiều ca ngợi chính sách này của ông Thiệu. Nhưng thực chất đây là chính sách CCRD, học hỏi từ triết lý của chủ nghĩa cộng sản. (Đoạn viết về VN là dựa trên wiki, Studwell chỉ nhắc sơ qua về việc Mỹ cố vấn cho ông Thiệu CCRD năm 1969).

 

Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc rất tàn bạo bởi vì có đấu tố, hành hạ địa chủ. VN cũng mắc phải một số sai lầm như vậy và đảng cũng đã thừa nhận. Tuy nhiên, nói chung CCRD vẫn là một chính sách đúng đắn, để lại tác động tốt lâu dài đến nền kinh tế. Ở Nhật, Hàn, Đài, (và cả Triều Tiên), CCRD chỉ bao gồm lấy đất của địa chủ chia cho đa số dân nghèo. Không có đấu tố. Thế nên sau này chính quyền Mỹ cũng ủng hộ và tài trợ. Ở Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, CCRD không triệt để cho nên kinh tế không phát triển bằng Đông Bắc Á. Không những vậy, chính trị bất ổn vì nông dân không có ruộng đất nên dễ nổi loạn.