Sunday, March 5, 2023

Đối thoại chính trị và hoà giải dân tộc

Khoảng 10 năm trở lại đây, các nhân sỹ trí thức hưu trí đã nhiều lần kêu gọi Đảng CS đối thoại với giới hoạt động đối lập. Nhiều người trong số họ phàn nàn rằng không bao giờ nhận được phản hồi. Thật ra tháng 5/2017, báo chí đưa tin ông Võ Văn Thưởng, khi ấy là Trưởng Ban Tuyên giáo, nói rằng sẽ đề nghị Ban Bí thư cho phép đối thoại với giới đối lập. Tuy nhiên sau đấy không thấy ông ấy nhắc lại nữa. Gần đây, ĐCS tỏ thái độ rất cứng rắn, không chấp nhận bất kỳ mầm mống tổ chức chính trị nào và trừng phạt rất nặng những vụ việc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Những người thích thực hành chính trị sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều và phải tự nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật. Chính vì vậy, tăng cường đối thoại với các cấp chính quyền trở thành hoạt động rất phù hợp. Cần phải tìm hiểu những nguyên nhân cản trở các hoạt động này.

 

(A) NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỐI THOẠI

(i) Người Đối Thoại Phải Có Kinh Nghiệm Thảo Luận Chính sách: Thông thường, để đối thoại ở tầm quốc gia, người đối thoại phải có kinh nghiệm thảo luận về luật/chính sách với các cơ quan chính phủ VN. Đối thoại với Đảng/Chính quyền hoàn toàn khác với việc nâng cao dân trí cho dân. Nhiều học giả, nhân sỹ, trí thức nổi tiếng cũng không có những kinh nghiệm này. Nhiều vấn đề chính trị rất phức tạp khiến việc đối thoại có thể kéo dài năm này qua năm khác. Thế nên người đối thoại phải hết sức kiên nhẫn và kiềm chế.

(ii) Người Đối Thoại Phải Lịch Lãm, Tôn Trọng Đối Phương: Đối thoại không phải là vận động chính sách. Người đối thoại có thể thẳn thắn trình bày quan điểm của mình, tuy nhiên phải thực sự tôn trọng đối phương. Họ cần có niềm tin sâu sắc rằng các đại diện của Đảng/Chính quyền (ĐDĐCQ) cũng yêu nước và mong muốn VN phát triển giống như mình, chỉ có điều quan điểm khác mình. Đối thoại là để làm sáng tỏ vấn đề, tìm kiếm sự đồng thuận, và để mở ra chuỗi đối thoại tiếp theo. Đặc biệt, sau khi kết thúc đối thoại, cần đảm bảo rằng nếu người tham gia đối thoại viết bài tường thuật thì phải rất thiện chí, khuyến khích mọi nỗ lực dù nhỏ nhất của ĐDĐCQ. Có thể bày tỏ sự thất vọng nếu không đạt mục đích nhưng tuyệt đối không chê bai cá nhân họ. Cho dù buổi đối thoại không đạt được mục tiêu nào thì vẫn nên cám ơn họ đã giành thời gian cho mình, rồi sửa lại đề xuất và đề nghị tổ chức buổi đối thoại tiếp theo. Cần coi ĐDĐCQ như những đối tác rất quan trọng phải giữ quan hệ để đối thoại lâu dài.

Những người thường xuyên phê phán gay gắt chính quyền, bêu riếu các quan chức, nói chung sẽ không phù hợp để tham gia đoàn đối thoại, bởi họ không tạo được niềm tin rằng việc bêu riếu buổi đối thoại và các ĐDĐCQ sẽ không xảy ra sau khi đối thoại kết thúc. Tôi không nói rằng “phê phán chính quyền gay gắt” là không cần thiết. Chính quyền nào cũng cần được người dân giám sát và phê bình. Tuy nhiên “nhóm tham gia đối thoại” và “nhóm chuyên phê phán chính quyền gay gắt” phải là hai nhóm khác nhau. Ví dụ, GS Chu Hảo và ông Nguyễn Đình Bin là các cựu quan chức, đã từng có nhiều kinh nghiệm làm việc về luật, chính sách, có quan điểm đối lập, nhưng không thường xuyên phê phán gay gắt cho nên khá phù hợp để tham gia đoàn đối thoại.

(iii) Nội Dung Đối Thoại Cần Thực Tế: Sau khi báo chí đưa tin về phát biểu của ông Võ Văn Thưởng, giới đối lập có nhiều ý kiến đòi đa nguyên, đa đảng. Tôi nghĩ ý kiến đấy không thực tế. Những vấn đề như tù nhân chính trị cũng sẽ không phù hợp. Những thứ đó nên là việc của các chính phủ và các tổ chức nhân quyền phương tây. Đối thoại với Ban Tuyên giáo có lẽ chủ yếu là về lý luận: mục tiêu, tầm nhìn của quốc gia. Nếu nói về những sáng kiến về luật/chính sách cụ thể cũng thì cũng chỉ cần thảo luận về nguyên tắc (không cần đi sâu vào chi tiết bởi đã có các chuyên gia làm việc đó sau này). Ông Thưởng cũng nói những vấn đề cấp bách nhưng phức tạp chưa thể đồng thuận cao thì có thể đề nghị thí điểm [1]. Đại đa số những người đối lập trẻ và trung niên hiện nay là những người hoạt động thực hành, có quan điểm rất cực đoan, không phù hợp để bàn về lý luận.

(iv) Những Lo Ngại: Nếu giới đối lập là một tổ chức/phong trào rất lớn, có ảnh hưởng mạnh đối với công chúng như ở một số nước khác thì ĐCS bắt buộc phải thương thuyết. Nhưng thực tế, cộng đồng đối lập hiện nay rất nhỏ và yếu. Chưa kể, quan điểm của đại đa số họ rất cực đoan, tấn công cả những người gắn bó chế độ cho nên họ không thể đại diện cho tất cả những công dân yêu thích dân chủ. Nghĩa là giới đối lập hiện nay cũng chỉ là một nhóm công dân, bên cạnh nhiều nhóm công dân khác trong xã hội. Có lẽ ông Thưởng phát biểu như vậy để thăm dò, bởi các lãnh đạo ĐCS vẫn lo ngại giới đối lập sẽ cử những người không phù hợp tham gia đối thoại, biến đối thoại thành cơ hội để họ chửi bới, bôi nhọ sau khi đối thoại. Như vậy, việc đối thoại sẽ trở thành vô ích.

Quan sát đối thoại Nga-Ukraina hiện nay có thể thấym mặc dù là hai quốc gia đối địch nhưng không hề có những thông tin bôi nhọ thành viên của hai đoàn đối thoại (v.d. lão A cực kỳ bảo thủ và hiếu chiến, lão B ngu dốt, lão C xảo quyệt, tàn nhẫn). Những người tham gia đối thoại chỉ nêu ý kiến đại diện cho phe họ. Việc phỉ báng cá nhân họ sẽ khiến cho các cuộc đối thoại trở nên khó khăn. Gần đây, thậm chí Ukraina phải mời tỷ phú Abramovich, một người đang có bạn gái là người Ukraina, và có quan hệ tốt với cả hai phe tham gia đối thoại.

Dưới đây tôi sẽ nói về một ví dụ về đối thoại với các cơ quan chính phủ và sau đó gợi ý về đối thoại với các cấp chính quyền.

 

(B) MỘT VÍ DỤ ĐỐI THOẠI VỀ QUYỀN DÂN SỰ: CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP

Công đoàn độc lập (CĐĐL) là một khái niệm hết sức nhạy cảm đối với cả VN và TQ. Kể từ khi xảy ra vụ Công đoàn Đoàn kết của Ba Lan, cả hai nước đều rất cảnh giác, không để những tổ chức như thế có cơ hội xuất hiện. Tuy nhiên, bối cảnh lịch sử của hai nước rất khác nhau. Công đoàn ở VN ra đời từ 1929, có công rất lớn trong vận động công nhân đấu tranh giành chính quyền trước 1945 và ở miền nam giai đoạn 1955-1975. Trong khi đó, công đoàn ở TQ ra đời sau khi ĐCS đã giành được chính quyền cho nên không có công trạng gì đáng kể. Hơn nữa, vị thế quốc tế của hai nước rất khác nhau. Gần đây có một số áp lực dẫn đến việc VN và TQ có quan điểm khác nhau về vấn đề này. Từ sau khi vào WTO, sức ép đình công tự phát ở VN rất lớn (giai đoạn 2008-2012, trung bình mỗi năm có 550 cuộc đình công, giai đoạn sau có giảm nhưng vẫn là sức ép lớn). Cộng thêm gần đây, mong muốn ký các hiệp định tự do thương mại (TPP, CPTPP, EVFTA) dẫn đến việc ĐCSVN nhận thấy cần chấp nhận công đoàn độc lập ở mức độ nào đó. Trong khi đó ở TQ, đây vẫn là đề tài cấm kị.


Đối thoại về CĐĐL ở VN đã kéo dài trong khoảng 5 năm, 2013-2018, bao gồm đàm phán về một phần TPP và toàn bộ EVFTA, chứ không phải chỉ đàm phán hai Công Ước 98, 87, mặc dù hai công ước đó thuộc về những vấn đề xương nhất. Đây là đàm phán giữa một bên là Nghị viện Châu Âu (EP), Mỹ và một bên là đại diện cho chính phủ VN: Bộ LĐTBXH (MOLISA), Tổng Liên đoàn Lao động (VGCL), và VCCI. MOLISA đại diện cho cơ quan lập pháp (ở VN, các bộ ngành là nơi soạn thảo văn bản pháp luật cho lĩnh vực của họ), VGCL bảo vệ quyền lợi cho công nhân, VCCI bảo vệ quyền lợi cho giới chủ. Kết quả đạt được sau 5 năm đàm phán là sẽ có các công đoàn cấp cơ sở tương đối độc lập ra đời, không thuộc sự quản lý của VGCL. Các CĐĐL này cũng có quyền đại diện cho công nhân của đơn vị ấy thương lượng với chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên, họ vẫn phải đăng ký thành lập với chính quyền và không được phép thành lập công đoàn ở cấp cao hơn (v.d. công đoàn ngành hoặc công đoàn khu vực) như các công đoàn này của VGCL. Họ cũng không có quyền đại diện cho công nhân đối thoại chính sách xã hội với các cơ quan chính phủ như VGCL.

Đối thoại diễn ra khá thẳng thắn. EP và Mỹ đương nhiên mong muốn có loại CĐĐL quy mô lớn hơn, giống như ở phương tây. Nhưng kết quả đạt được như vậy cũng là tốt. VN đã sửa Luật Lao động 2019, tạo điều kiện cho loại hình công đoàn mới ra đời và ký Công Ước 98 về Quyền Thương lượng Tập thể. Dự kiến chính phủ sẽ ký nốt Công Ước 87 về Quyền tự do Hiệp hội trong năm 2023. Phải ký cả 2 công ước này thì CĐĐL mới có cơ sở pháp lý để thành lập. Ngoài ra, cũng cần một số văn bản hướng dẫn thi hành luật. Việc đối thoại chỉ đưa đến sự đồng thuận về nguyên tắc của một loại hình CĐĐL. Hiện nay, các luật gia vẫn đang tiếp tục nghiên cứu chi tiết về các thủ tục để thành lập CĐĐL, tránh mâu thuẫn về giữa hai loại hình công đoàn, từ đó mới xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Cũng cần nói thêm rằng giai đoạn 2014-2016, ILO (với sự hỗ trợ của EU và Mỹ) đã hợp tác với VGCL để tài trợ thí điểm thành lập 25 CĐĐL cấp cơ sở ở VN do công nhân tự tổ chức và không thuộc sự quản lý của VGCL. Tuy ILO chỉ dự định tài trợ thành lập 25 công đoàn, nhưng kết quả rất khả quan, đến năm 2016 đã có 323 CĐĐL[2].

Nói tóm lại, việc đối thoại phải hết sức kiềm chế và kiên nhẫn, bởi có thể kéo dài nhiều năm. Nếu không đạt được mục tiêu mong muốn thì có thể chấp nhận kết quả ở mức thấp hơn. Mặc dù Trump đưa Mỹ ra khỏi TPP từ năm 2017, những đối thoại về CĐĐL trong khuôn khổ TPP không phải là vô ích, bởi vì chính phủ VN đã đồng ý với những điều khoản đạt được. Khi chưa thể đạt được sự đồng thuận về một vấn đề nào đó thì có thể đề nghị thí điểm. Việc thí điểm thành công cũng sẽ tạo điều kiện để dễ đàm phán hơn. Đối thoại ở cấp TW chỉ thảo luận về mục tiêu, tầm nhìn, và những nguyên tắc chung. Đi sâu về chi tiết thì sẽ có các chuyên gia hoàn thiện.

 

(C) ĐỐI THOẠI CẤP TRUNG ƯƠNG

Gần đây, chính phủ đã có một số dấu hiệu đáng khích lệ như các bộ ngành đã tổ chức đối thoại với đại diện của hai Nhóm Tư vấn Nội địa (DAG) của EU và VN. Một số tờ báo lề phải đưa tin việc các nhân sỹ, trí thức ký petition về vụ cô giáo Thơ bị mất việc làm nhưng không hề có ý mỉa mai, bôi nhọ. Ông Võ Văn Thưởng hiện giờ là Thường trực Ban Bí thư cũng là một thuận lợi. Dưới đây là một số gợi ý của tôi để có thể đối thoại cấp trung ương.

1) Lập Danh Sách Những Người Tham Gia Đối Thoại: Trong thư đề nghị đối thoại, giới đối lập nên gửi kèm danh sách những người dự kiến sẽ tham gia đối thoại. Chỉ nên lựa chọn những người thực sự đã có kinh nghiệm làm việc với các cơ quan chính phủ VN (v.d. những người có kinh nghiệm tư vấn về quản trị nhà nước cho các bộ/ngành, các cựu lãnh đạo, cựu quan chức), tính cách kiên nhẫn, kiềm chế, ôn hòa. Với mỗi người trong danh sách, nên kèm theo vài dòng giới thiệu về kiến thức và kinh nghiệp thảo luận chính sách của họ. Việc lập danh sách như vậy rất quan trọng để Đảng/Chính quyền có thể mời đích danh những người họ muốn đối thoại và từ chối những người họ thấy không phù hợp. (Vụ vườn rau Lộc Hưng vừa rồi, chính quyền phường cũng chỉ mời đại diện một số hộ gia đình chứ không mời tất cả các hộ bị ảnh hưởng quyền lợi đối thoại).

Danh sách Tham gia Đối thoại này nên bao gồm hai nhóm: (i) Nhóm đại diện cho giới hoạt động đối lập; (ii) Nhóm các chuyên gia độc lập (nhưng có xu hướng ủng hộ dân chủ. Nhóm chuyên gia độc lập này cũng bao gồm những người đã có kinh nghiệm thảo luận về các lĩnh vực Quản trị Nhà nước (Luật, Chính sách, Kinh tế, Khoa học Chính trị, Xã hội học Chính trị), các cựu lãnh đạo và cựu quan chức, đại diện các tổ chức dân sự hợp pháp, nhà báo/nhà bình luận lề phải nhưng ủng hộ dân chủ và có nhiều kinh nghiệm tham gia các hội thảo chính sách).

Sở dĩ tôi đề nghị mời thêm nhóm (ii) bởi số người thuộc giới đối lập đáp ứng những điều kiện trên để tham gia đoàn đối thoại rất ít. Đặc biệt là rất thiếu đại diện ở độ tuổi trung niên. (Quá trẻ thì không đủ kinh nghiệm để đối thoại ở cấp này). Nhóm chuyên gia độc lập đó sẽ đem đến nhiều kiến thức và kinh nghiệm hiện đại. Sự kết hợp như vậy cũng mang tính đại diện cho nhân dân cao hơn. Những người nhóm (ii) không muốn bị gọi là đối lập (thực tế họ không phải đối lập), và cũng sẽ không tự đề nghị chính quyền đối thoại. Nhưng nếu được các cơ quan chính phủ mời đích danh, tôi tin chắc là họ sẽ tham gia nhiệt tình. Ngoài ra, giới đối lập chủ động mời những người ủng hộ quan điểm của mình thì sẽ thuận lợi hơn là để chính quyền chỉ định chuyên gia.


Trong thư đề nghị đối thoại, giới đối lập có thể bổ xung danh sách tên các hội nhóm đối lập trong nước ủy nhiệm cho Đoàn Đối thoại đại diện cho họ tham gia đối thoại, kèm theo e-mail, (số điện thoại), để tăng tính đại diện. Cũng có thể liệt kê tên các hội nhóm nước ngoài, nhưng có lẽ chỉ nên các hội nhóm trung tính, đặc biệt là những tổ chức có quan hệ hệ với chính phủ VN, kể cả các hội nhóm không liên quan đến chính trị. Bởi lẽ tuyệt đại đa số các hội, nhóm chính trị hải ngoại hiện nay vẫn bị coi là thù địch.

 

Nếu giới đối lập không muốn mời thêm các chuyên gia độc lập thì cũng không sao. Đoàn đối thoại cũng chỉ cần 3-5 người, tùy theo chủ đề. Trước nay, trong quá trình hoạch định luật pháp/cơ chế/chính sách các lĩnh vực khác, các cơ quan chính phủ vẫn thường xuyên mời các chuyên gia tham vấn. Khá ít người trong số đó có năng lực quảng giao. Thế nên không cần quá lo lắng về năng lực đối thoại của các chuyên gia, miễn là họ thảo luận lịch sự và ôn hòa. Giới đối lập cũng có thể thành lập một Nhóm Chuyên Gia chuyên Đối thoại về các vấn đề chính trị, chứ không nhất thiết phải mang tên là Giới đối lập.

2) Cam Kết Đối Thoại Văn Minh, Chuyên nghiệp: Trong thư đề nghị đối thoại, giới đối lập nên có phần hứa hẹn, cam kết rằng những người tham gia đối thoại sẽ đảm bảo thảo luận trên tinh thần văn minh, tôn trọng ĐDĐCQ, cả trong và sau đối thoại. Họ sẽ ứng xử chuyên nghiệp giống như các đại diện của các tổ chức quốc tế thường làm việc với các cơ quan chính phủ.

3) Nội Dung Đối thoại: Trong thư đề nghị đối thoại, giới đối lập nên mô tả vắn tắt, gạch đầu dòng, những nội dung dự kiến sẽ đối thoại. Cá nhân tôi cho rằng thư đề nghị đối thoại nên nêu vài vấn đề khác nhau, nếu không được cái nọ thì có thể được cái kia. Giai đoạn hiện nay không nên đề cập đến “Đa nguyên Đa đảng”. Cũng không nên nói thẳng về “Tam quyền Phân lập” nhưng vẫn có thể có một số sáng kiến để tăng tính độc lập của tư pháp. “Xã hội Dân sự” cũng là chủ đề kiêng kị nhưng thật ra đấy là chủ đề rất rộng, nhiều tổ chức dân sự độc lập như của Lê Quang Bình, Nghiêm Hoa, Jang Kều, Hoàng Minh Hồng vẫn phát triển tốt nhiều năm nay. Thế nên vẫn có thể có những sáng kiến chính sách về XHDS. Cái gì khó có thể đồng thuận ngay thì có thể yêu cầu thí điểm. (Tôi cũng đã có một số đề nghị trong Thư gửi Thủ tướng Phạm Minh Chính về Nhu cầu Cấp thiết phải Đổi mới Chính trị. Quý vị có thể tham khảo).

Đặc biệt, những người tham gia đối thoại phải am hiểu vấn đề cần đối thoại. Tôi thấy rất nhiều người, kể cả các trí thức trình độ cao, chửi bới chính quyền rất hăng nhưng không hiểu gì mấy về vấn đề họ chửi, không biết vấn đề đó đã được giải quyết đến đâu. Có thể sau khi Đảng/Chính quyền đồng ý đối thoại, hai nhóm trong danh sách mới nghiên cứu kỹ vấn đề đối thoại, nhưng chắc chắn phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đối thoại. Việc mời các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cùng tham gia đoàn đối thoại rất quan trọng bởi vì họ có thể nghiên cứu rất nhanh cả vấn đề rất mới và biết nơi tìm tài liệu, và có mạng lưới đồng nghiệp hỗ trợ.

 

(D) ĐỐI THOẠI CẤP TỈNH, THÀNH, BỘ NGÀNH

Tuy nhiên kể cả thực hiện những điều trên, tôi cũng không chắc Ban Bí thư có chấp nhận đối thoại cấp TW hay không. Thế nên giới đối lập nên gửi thư đề nghị đối thoại đến nhiều nơi khác nữa, ví dụ Văn phòng Chính phủ, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Hội đồng Lý luận TW, các UBND cấp tỉnh/thành, và các cơ quan bộ/ngành, các cơ quan tư vấn như Học viện Chính trị Quốc gia, v.d. Có thể xưa nay giới đối lập có quan điểm thù địch khá nặng cho nên chưa tạo được niềm tin của các lãnh đạo ĐCS về năng lực đối thoại văn minh, chuyên nghiệp.

Thực tế, đối thoại về Công đoàn Độc lập diễn ra ở cấp bộ, mặc dù MOLISA phản ánh quan điểm của TW. Quý vị hoàn toàn có thể đề nghị có chính sách hoặc thí điểm biểu tình, lập một số dạng hội hè, hoặc cho phép một số tờ báo tư nhân khi đối thoại với UBND các thành phố (v.d. TPHCM, HN). Các vấn đề như giảng dạy chính trị trong trường đại học, quyền lập hội, một số dạng tổ chức dân sự hoàn toàn có thể thảo luận với Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp, đoàn đại biểu Quốc Hội cấp tỉnh/thành chứ không nhất thiết phải đối thoại ở cấp TW.

Các bộ trưởng thường rất bận cho nên thường giao cho cấp dưới thảo luận với các tổ chức/cá nhân. Nhiều thứ trưởng, vụ trưởng rất lịch thiệp, cởi mở. Tuy nhiên, công dân có cơ hội trao đổi với họ cũng nên giữ uy tín, hình ảnh cho họ cả trong và sau khi đối thoại. Nếu không thì sẽ không có lần thứ hai. Về chính trị, họ thường chỉ là người truyền đạt quan điểm của cấp trên chứ không nêu ý kiến của cá nhân. Thế nên chẳng có lý do gì để tức giận, bêu riếu cá nhân họ. Những người đối lập trẻ cũng có thể yêu cầu đối thoại ở cấp này đối với những vấn đề mà họ am hiểu rõ, nhưng cũng phải đảm bảo đối thoại văn minh, chuyên nghiệp.

 

(E) ĐỐI THOẠI CÁC CẤP THẤP HƠN VÀ Ở HẢI NGOẠI

Những người khác, bao gồm cả những người chuyên phê phán chế độ gay gắt, cũng nên thay đổi phong cách đối thoại khi có cơ hội. Ví dụ, nhiều người thường nhận được giấy triệu tập của công an, đôi khi của chính quyền, về các hoạt động liên quan đến chính trị hoặc an ninh quốc gia. Nhiều người tỏ ra rất tức giận, khinh bỉ, bêu riếu những đại diện của công an, chính quyền. Nhiều người ra tòa chửi bới chế độ om xòm, nào là “ngu xuẩn”, nào là “con thú cắn người”. Những thái độ đấy rất không ổn. Công dân có quyền đòi hỏi tự do, dân chủ, và tất cả những điều họ cho là đúng. Nhưng đấy chỉ là ý kiến của cá nhân họ, không chắc có lợi cho quốc gia. Những người công an, đại diện chính quyền, pháp luật sau khi đối thoại sẽ mang sự ác cảm đối với giới đối lập báo cáo lên cấp trên. Điều ấy khiến cho chính quyền lo ngại về dân trí của giới đối lập, và cộng đồng yêu thích dân chủ nói chung, và ngần ngại nới rộng tự do hơn.

Nên tham khảo phong cách của Nguyễn Anh Tuấn, từng là thủ khoa Học viện Hành chính Quốc gia. Trong một buổi thẩm vấn, một cán bộ điều tra tên là Vũ nói rằng giữa anh ta và Tuấn chỉ có thể có giới tuyến “Địch-Ta”, Tuấn vẫn khẳng định rằng: “Cuối cùng, tôi chỉ muốn nhắn gửi tới anh Vũ và các anh an ninh khác đã làm việc với tôi (những người mà tôi không thấy sự thù địch nào nên không nêu tên ở đây) rằng dù thế nào đi nữa tôi vẫn không coi các anh là kẻ thù của tôi, ngay cả khi các anh muốn đẩy tôi vào tình thế đó. Tôi thực sự tin tưởng vào một Việt Nam trong tương lai đủ rộng cho tất cả chúng ta, nơi mà những người dù khác biệt quan điểm vẫn có thể dành cho nhau sự tôn trọng”.

Nếu cảm thấy mình không đủ bình tĩnh thì có thể im lặng suốt buổi làm việc. Tuy nhiên nếu có thể điềm tĩnh thì trao đổi trực tiếp hoặc sau khi ra về nên gửi thư cho đại diện của công an, chính quyền, đại ý rằng: Tôi tin rằng anh/chị cũng là người yêu nước, cũng mong muốn VN văn minh và phát triển, tuy nhiên quan điểm của chúng ta có thể khác nhau. Quan điểm của tôi là VN cần phải thế này, thế kia. Với các đại diện pháp luật cũng nên bày tỏ quan điểm như vậy. Tôi tin chắc rằng cách ứng xử ấy sẽ nâng đẳng cấp quý vị lên nhiều, và biết đâu sẽ mở ra những cơ hội đối thoại mới tốt đẹp. Trong tương lai, những người ứng xử văn minh, chuyên nghiệp còn có thể đại diện cho dân cư trong khu vực để đối thoại với cấp cao hơn.

Ở hải ngoại, tôi biết nhiều Việt kiều và du học sinh có trình độ tốt về các lĩnh vực quản trị nhà nước. Một số rất nhỏ trong số đó có cơ hội tham gia vận động chính sách ở VN. Tuyệt đại đa số còn lại không có cơ hội ấy nhưng họ có thể tổ chức các nhóm đề nghị đối thoại với các cơ quan ngoại giao VN về hòa giải dân tộc và các vấn đề khác. (Xin nhắc lại, đối thoại không phải là vận động chính sách). Nhiều nhân viên ngoại giao của VN cũng rất thiện chí. (Một số cựu đại sứ như Nguyễn Trung, Chu Công Phùng từng bày tỏ sự ngưỡng mộ không giấu diếm đối với các nền dân chủ Thái Lan, Miến Điện). Tuy nhiên các nhóm này cần tách biệt với những người chuyên lên án, thù địch với chế độ, và cần đảm bảo đối thoại văn minh và chuyên nghiệp. Thông thường, những vấn đề pháp lý, chính trị, chính sách ở một chế độ thường đòi hỏi trải nghiệm sống đủ lâu ở dưới chế độ ấy thì mới có thể có quan niệm chính xác. Tuy nhiên, những nhóm như vậy vẫn có thể hỗ trợ các các cơ quan VN trong lập pháp, hoạch định chính sách ở một chừng mực nào đó.

Gần đây, chính phủ đã nhiều lần yêu cầu các công chức phải cải thiện thái độ khi tiếp xúc với dân. Có lẽ cũng sắp đến thời kỳ giới đối lập có thể đối thoại với các cấp chính quyền. Tuy nhiên đại diện của giới đối lập phải xây dựng được niềm tin cho họ về sự am hiểu về vấn đề đối thoại và ứng xử văn minh, chuyên nghiệp cả trong và sau đối thoại.

 

PS: Nhân có bạn thắc mắc tại sao không mời các chuyên gia quốc tế. Nếu ai nghiên cứu các ngành thực hành như chính sách, chính trị, luật thì sẽ biết, người ta luôn luôn có xu hướng tuyển chọn người của quốc gia đó hơn người nước ngoài, bởi người ngoài không am hiểu về về văn hóa, ngôn ngữ, môi trường sống, có sự trạo đổi thường xuyên với giới chuyên gia nước đó, không đủ trải nghiệm sống ở quốc gia đó, cho nên không quyết định chính xác.

Thực tế ngay cả các nước nước dân chủ cũng vậy, bầu cử tổng thống, quốc hội, sửa đổi hiến pháp, quyết định lộ trình đổi mới chính trị phải do dân của chính nước đó quyết định. Những người nước ngoài không có quốc tịch ở quốc gia đó chỉ giữ vai trò quan sát viên, hoặc chỉ cho ý kiến mang tính tham khảo, không nhất thiết phải mời họ.

Không nước nào trên thế giới để cho người không có quốc tịch tham gia quyết định sửa đổi hiến pháp, soạn thảo lộ trình đổi mới chính trị cả. Người ta hay nói những vấn đề hệ trọng phải do toàn dân phúc quyết, có nghĩa là công dân có quốc tịch ở nước đó quyết định. Dĩ nhiên những luật phức tạp thì dân không soạn thảo được mà phải do giới chuyên gia soạn thảo và người dân bổ sung ý kiến thôi.

Ở tất cả các nước khác cũng vậy, luật của nước nào chủ yếu là do chuyên gia của nước đó soạn thảo, không phải là vì thiếu tiền thuê chuyên gia quốc tế đâu. Hơn nữa những người không phải là công dân nước đó thì không phải chịu trách nhiệm về những quyết định sai lầm của mình. Quyền phải luôn đi đôi với trách nhiệm.

Thực tế hiện nay không thiếu chuyên gia độc lập người Việt yêu thích dân chủ. Chỉ có điều trước nay chính quyền chưa tạo điều kiện cho họ nêu ý kiến thôi.

Thật ra tôi lấy ví dụ đàm phán về công đoàn độc lập thì hơi khác. Bởi vì đàm phán đó trong khuôn khổ giữa VN với EP hoặc VN với Mỹ về EVFTA hoặc TPP, và công ước 98, 87 nằm trong thỏa thuận quốc tế đấy. Đấy không phải là việc do người Việt hoàn toàn quyết định.

[1] https://vietnamnet.vn/.../van-de-moi-chua-dat-dong-thuan...

[2] Trade Unions in Transformation: Enhancing and Mobilizing Structural and Organisational Power to Better Protect the Rights and Interests of Workers in Vietnam.

 

===================

 Tôi nói rằng chuyên gia Việt chất lượng trung bình kém xa chuyên gia tây, nhưng lại nói rằng chuyên gia Việt giỏi hơn chuyên gia tây về các vấn đề chính trị/luật pháp/chính sách VN, khiến cho nhiều người khó hiểu. Thật ra không có gì mâu thuẫn cả. Chuyên gia tây giải quyết các vấn đề này ở nước họ giỏi hơn chuyên gia Việt giải quyết các vấn đề của VN. Nhưng chuyên gia tây giải quyết các vấn đề của VN thì thường kém hơn các chuyên gia Việt. Thực tế thế hiện rất rõ điều ấy. Các vị tây, Việt kiều ít trải nghiệm sống ở VN hiểu biết về các công việc nội bộ của VN rất ngô nghê. Ai nghiên cứu những ngành này đều biết người ta thường ưu tiên lựa chọn người của một quốc gia để đào tạo để sau này sẽ về giải quyết công việc ở quê hương họ.

Nói rằng chuyên gia Việt Nam yếu nhưng để bàn về các vấn đề mục tiêu, tầm nhìn, nguyên tắc chung thì họ làm dư sức. Chỉ đi sâu vào chi tiết kỹ thuật thì có thể cần mời thêm chuyên gia tây góp ý.

Hơn nữa, không có nước nào trên thế giới để cho người không có quốc tịch tham gia quyết định các vấn đề luật pháp, chính sách hệ trọng ở nước mình. Ví dụ, ngay cả ở các nước dân chủ, bầu cử tổng thống, quốc hội, sửa đổi hiến pháp, lập lộ trình đổi mới chính trị phải do công dân nước đó quyết định. Việc mời chuyên gia quốc tế hỗ trợ chỉ để tham khảo ý kiến, và phải được cấp TW chấp thuận. Nhưng mọi vấn đề nội bộ của VN nói chung vẫn phải là người Việt thảo luận và biểu quyết.

Tham nhũng chính sách có nghĩa là các nhóm lợi ích trong nước tác động vào quy trình lập pháp, hoạch định chính sách, để tạo ra những luật/chính sách có lợi cho họ. Trong chính trị cũng vậy, nếu một người đảm nhiệm công việc lập pháp/hoạch định chính sách mà để cho người không có quốc tịch VN tác động vào quy trình đó thì có thể sẽ bị kết tội phản quốc. Bởi vì họ không thể đảm bảo người mang quốc tịch nước ngoài đó không phải là gián điệp, tác động vào luật/chính sách của VN để phục vụ lợi ích của nước họ.

Thế nên nhiều bạn hoạt động đối lập suốt ngày nghĩ rằng phải dựa vào tây, tây giỏi hơn người Việt, kể cả trong chính trị VN thì cần phải thay đổi tư duy. Kẻo có ngày công an kết tội các bạn làm tay sai cho nước ngoài. Người quốc tịch nước ngoài luôn có những sự yếu kém và giới hạn không thể vượt qua trong các lĩnh vực nội bộ của VN.

 

Truyền thông lề phải

Mỗi bài báo, mỗi chương trình truyền hình lề phải đều có nhiều cách diễn giải. Điều trước tiên cần quan tâm là bài báo/chương trình đó hướng đến đối tượng nào? Ở nước khác phát triển, mỗi tờ báo phổ thông có thể hướng đến một dạng đối tượng khác nhau. Nhưng ở VN, truyền thông đại chúng hầu như luôn coi đối tượng phục vụ quan trọng nhất là cộng đồng những người dân trí thấp, tư duy đơn giản, những người chưa trưởng thành, và những người ít có khả năng tiếp cận với công nghệ, bởi đó là nhóm đối tượng đông đảo nhất trong xã hội.

Cộng đồng hải ngoại và nhiều người có tư duy tốt ở trong nước có thể tức giận vì truyền thông lề phải luôn cố gắng tuyên truyền “đảng ta là đảng duy nhất do dân, vì dân". Họ bực bội khi tuyên giáo tuyên truyền tấm gương HCM ở khắp nơi. Họ mỉa mai định nghĩa nhân quyền ở VN vì khác với phương tây – nơi sinh ra khái niệm nhân quyền. Họ chán ngấy với chủ trương “giữ vững con đường tiến lên CNXH”. Họ cho là tuyên giáo chỉ cố gắng ngu dân để giữ vững chế độ.

Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy. Ở VN, chính quyền cũng có thiện chí muốn nới lỏng tự do dần dần, để cho thông tin đa chiều. Thế nên việc tranh luận về chính trị, xã hội trên facebook vẫn tương đối thoải mái, tuy có một số hạn chế (v.d. ngăn chặn những thông tin bôi nhọ chính quyền đương nhiệm). Nhưng họ không thể để hoàn toàn tự do như phương tây, bởi lo ngại sẽ không quản lý được.

Ngoài ra, truyền thông phải làm an lòng các thế hệ công thần cùng với họ hàng, thân quyến của họ, những người đã đóng góp công lao, xương máu trong các cuộc kháng chiến. Họ phải đảm bảo rằng những đóng góp, hi sinh ấy không phải là vô ích.

Điều họ lo ngại nhất là nếu để thông tin tự do như phương tây thì sẽ không quản lý được, dẫn đến người dân mất lòng tin ở chế độ và nổi loạn. Hệ quả là chế độ lung lay.

Nhiều người cho rằng Đảng quyết tâm bảo vệ chế độ vì tham quyền cố vị. Tôi nghĩ còn có những nguyên nhân khác tích cực hơn. Chẳng hạn như:

1. Nếu thay đổi chế độ thì quốc gia sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, không có được dân chủ đúng nghĩa như Tây Âu, Bắc Mỹ.

2. Những di sản, thành quả, công lao của hàng triệu người Việt trong mấy cuộc kháng chiến để giành độc lập và thống nhất tổ quốc sẽ nhanh chóng bị xóa sổ.

3. Có thể sẽ có những chính sách “trả thù ngược” và “di tản ồ ạt” giống như thời 1975-1992, nhưng lần này nạn nhân là các đảng viên cộng sản và thân quyến, và đông đảo những người khác từng phục vụ chế độ.

Chỉ có thể hi vọng một tỷ lệ rất nhỏ cộng đồng những người có thù hận với chế độ đồng cảm với những điều trên. Nhưng những người khác không có thù oán, và thế hệ F1, F2 của những người có thù hận rất nên thay đổi tư duy. Dù sao đi nữa, “giành độc lập dân tộc” và “thống nhất tổ quốc” vẫn là những mục tiêu chính đáng, cho dù người Việt đã phải trả giá quá đắt cho điều đó. Công lao, xương máu của hàng triệu công dân trong các cuộc chiến đó rất đáng trân trọng. Lỗi là ở những người lãnh đạo đảng CS khi ấy đã không thực hiện đúng lời hứa trước nhân dân mà thôi.

Mỗi quốc gia có một hoàn cảnh khác nhau. Điều đúng đắn có lợi nhất cho quốc gia nhiều khi là điểm cân bằng lợi ích giữa các nhóm công dân. (Ở VN, có hai nhóm công dân quan trọng là nhóm có thù oán với chế độ và nhóm phục vụ/đóng góp cho chế độ. Nhóm thứ hai đông hơn nhóm đầu.) Không nên rập khuôn quan niệm của phương tây về chủ nghĩa cộng sản. Trong quá khứ quả thật đảng CS đã phạm phải rất nhiều sai lầm. Tuy nhiên từ khi áp dụng kinh tế thị trường, màu sắc cộng sản ở VN đã phai nhạt rất nhiều. Tôi rất tin rằng, những người trẻ trong tương lai sẽ đánh giá lịch sử một cách công bằng, thừa nhận những chiến thắng Điện biên Phủ và chiến thắng các pháo đài bay B52 năm 1972.

Thái độ phủ nhận sạch trơn tất cả những gì tốt đẹp dính dáng đến cộng sản sẽ gây trở ngại lớn cho việc đổi mới chính trị ở VN.

 

Tương lai của tự do

Ai quan tâm đến chính trị VN mà chưa đọc cuốn “Tương lai của tự do” của Fareed Zakaria thì rất nên đọc, đặc biệt là Chương 4, nói về Hồi giáo. Zakaria viết cuốn này cách đây gần 20 năm rồi mà vẫn còn nguyên giá trị. VN không bị hồi giáo cực đoan thao túng, nhưng hận thù dân tộc khá nặng. Đại đa số những người trẻ và trung niên nòng cốt và kiên trì nhất của giới đối lập là những người có oán thù với chế độ (v.d. người được hưởng lợi dưới chế độ VNCH, những người đã đi tù dưới chế độ hiện nay, hoặc phải chịu đựng những mất mát, oan ức khác: ví dụ, mất nhà cửa đất đai, người thân phải chịu oan ức vì chế độ hiện nay…) Mà như vậy thì thế giới quan có thể thiên lệch. Thực tế tôi thấy hầu hết các hội nhóm trong nước đều có quan điểm tuyên truyền thù oán thù nặng nề, hoặc cực đoan đòi lật đổ chế độ.

 (Ngày xưa thì có nhóm THTNDC của Nguyễn Tiến Trung, Hoàng Lan, Trang Nhung quan điểm khá lành mạnh, trong sáng. Nhưng chính quyền không chấp nhận sự tồn tại các tổ chức chính trị trong nước cho nên họ quyết liệt đánh phá để giải tán. Các cụ hưu đối lập thì nhiều người quan điểm ôn hòa hơn. Nhưng dù sao các cụ cũng nghỉ hưu rồi, không phải là lực lượng nòng cốt trong tương lai gần.)

 

=========

 Dưới đây là một trích đoạn cuốn sách “Tương lai của tự do”:

Một cách thận trọng phía Hoa Kỳ lái câu chuyến sang đề tài quyền con người, tỏ ý ủng hộ đường lối nhẹ nhàng đối với phe đối lập tại Ai Cập, ủng hộ tăng cường tự do báo chí và phản đối việc giam giữ các nhà trí thức. Mubarak bắt đầu khó chịu và gắt gỏng trả lời: "Nếu tôi chấp thuận những điều đó, thì Ai Cập này sẽ rơi ngay vào tay những kẻ hồi giáo cực đoan. Liệu ông có muốn vậy?" Câu chuyện đến đây lại quay trở lại với về tiến độ của quá trình hòa bình.

Từ nhiều năm nay giữa Hoa Kỳ và các nước Ả Rập đã có những cuộc nói chuyện kiểu như vậy. Khi bị tổng thống Bush thúc ép, phải đồng ý với kế hoạch hòa bình thương thảo tại Camp David vào tháng 7 năm 2001, người cầm đầu Palestine Yasser Arafat đã trả lời đại khái như sau: "Nếu tôi chấp thuận kế hoạch này, thì ngày mai phái Hamas sẽ lên nắm chính quyền." Hoàng tử Bandar Bin Sultan, người phát ngôn khéo léo nhất của quốc vương Ả Rập Saudi, đã thường xuyên chống trả lại sức ép ngoại giao của Hoa Kỳ với lý do, lựa chọn khác có khả năng xảy ra nhất đối với hệ thống hiện hành có lẽ không phải là một nền dân chủ theo nghĩa của Jefferson, mà là một nhà nước thần quyền theo kiểu Taliban.

Điều tồi tệ nhất ở đây có lẽ là hình như tất cả ba người đều có lý. Các chính thể ở Trung Đông có thể là chuyên quyền, tham nhũng và bất tài; thế nhưng dù sao chúng vẫn còn tự do hơn, khoan dung hơn và đa nguyên hơn là cái, theo như dự đoán, nếu được sẽ có nhiều khả năng nhất trong số có thể thay thế vị trí của nó. Bầu cử tự do ở nhiều nước Ả Rập sẽ có lợi nhiều hơn cho những chính trị gia có quan điểm gần gũi với quan điểm của Bin Laden hơn là cho những người có quan điểm cởi mở với thế giới giống như vua Abdulla của Jordan chẳng hạn. Khi Emir của Kuwait năm 1999 muốn mở rộng luật bầu cử cho cho phụ nữ, nghị viện được thiết lập một cách dân chủ có số đông áp áp đảo là những người hồi giáo cực đoan đã làm thất bại ý định này. Bên cạnh đó gần như ôn hòa nổi lên sáng kiến của thế tử Abdalla thuộc Ả Rập Saudi cho phép phụ nữ được lái xe ô tô (do việc cấm lái xe hiện giờ cho nên ở Arập Saudi có tới nửa triệu người nhập cư từ Ấn Độ, Philippin và các nước khác hành nghề lái xe riêng.) Song do bị phái tôn giáo bảo thủ vận động chống đối cuối cùng thì vị thế tử cũng đành phải thay đổi ý kiến.

Thư gửi Thủ tướng Phạm Minh Chính: v/v Đổi mới Chính trị và một số giải pháp

Dưới đây là thư tôi gửi Thủ tướng Phạm Minh Chính ngày 24/11/2021 để trình bày về Nhu cầu cấp thiết phải Đổi mới Chính trị và một số giải pháp. Từ đó đến nay, tư duy của tôi đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, để lưu trữ tiến trình thay đổi nhận thức chính trị, tôi vẫn giữ lại lá thư này.

https://drive.google.com/file/d/1CGvVLlp-59aSUBfLIqjQOHmrKsViMLp0/view


Thư gửi thủ tướng Phạm Minh Chính: v/v Thành lập Tổ Tư vấn Kinh tế Quốc gia

 Đây là thư tôi gửi Thủ tướng Phạm Minh Chính ngày 24/11/2021 về việc thành lập Tổ Tư vấn Kinh tế Quốc gia

https://drive.google.com/file/d/1TZisyP-u51Hl6uzbdLZCSISw89Jnqfjt/view


Không nên xúc phạm các bậc cao tăng

 Nhiều người nhạo báng đám tang hòa thượng Thích Phổ Tuệ vừa mới qua đời vì ông ấy đảm nhận một loạt chức vụ cao cấp trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhận nhiều huân chương huy chương của nhà nước, và được chính quyền tổ chức đám tang rất to. Họ nghi ngờ ông là "sư quốc doanh", và cố gắng thuyết phục độc giả như thể ông là "gián điệp" của chính quyền. Theo họ thì chân tu là phải chống đối lại chính quyền và không hợp tác với GHPGVN.

 Cả hòa thượng Thích Nhật Từ cũng bị quy kết là "cộng sản nằm vùng" từ lâu, mới đây nhất là vụ làm lễ cầu cho Nanovax sớm được lưu hành. Mặc dù việc các doanh nghiệp mời các hòa thượng làm lễ động thổ, nhập trạch...là hết sức bình thường.

Thật ra, tôn giáo cao hơn chính trị một bậc. Nhiều bậc chân tu không muốn quan tâm đến chính trị nhưng vẫn muốn được chính quyền tạo điều kiện để truyền đạo. Họ coi các thứ chức vụ, bằng khen như cỏ rác, là công cụ để họ có môi trường thuận lợi để truyền đạo thôi. Nhà nước cũng muốn tranh thủ lấy lòng hàng triệu tín đồ cho nên làm đám tang to.

Tôi cũng tin có sư hổ mang, sư do công an đào tạo rồi cài cắm vào. Nhưng không nên xúc phạm các bậc chức sắc giáo hội và các vị tu hành nói chung khi không có bằng chứng rõ ràng. Ai có những phát biểu chướng tai thì phản đối thôi.

Tôn giáo ở VN rất nhạy cảm. Cách đây vài năm, Phật giáo muốn tổ chức hội nghị quốc tế về triết học phật giáo. Vậy mà các giáo sư Viện triết bảo tôi là xin giấy phép rất khó khăn. Ngày tổ chức thì công an trùng điệp. Thế nên các bậc chân tu muốn hành nghề một cách bình thường cũng phải thỏa hiệp rất nhiều. Bên Công giáo còn bị giám sát chặt nữa, bởi vì tinh thần đấu tranh của giáo dân rất mạnh, và họ bảo bọc che chở nhau rất tốt.

Dĩ nhiên, tôi không thể đảm bảo 100% hòa thượng Thích Nhật Từ là người thế nào, nhưng ông ấy học hành về Phật giáo lâu năm. Nhìn lý lịch nghiên cứu Phật pháp của ông ấy rất đáng kính nể. Thế nên khả năng ông ấy được công an cài cắm là rất nhỏ.

Làm chính trị mà tư duy cực đoan thế này thì thua xa tư duy của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ngày xưa. Làm sao hàng triệu tín đồ có thiện cảm với những người thích dân chủ được?

Tôi tôn trọng quan điểm chính trị của các chức sắc cao cấp của các tôn giáo, đặc biệt là những người đã tu tập lâu năm, uyên thâm về đạo pháp. Bởi lẽ tôi tin rằng họ vẫn coi việc đạo cao cao quý hơn tất cả mọi thứ trên đời. Tuy nhiên, việc họ bày tỏ quan điểm chính trị, bất kể là ủng hộ hay chống đối, chỉ là một hình thức “nhập thế” bởi họ nghĩ đó là điều tốt cho chúng sinh. Tôi trân trọng thiện tâm “nhập thế” của họ, chứ không phải quan điểm chính trị của họ là đúng đắn. Về mặt chính trị, họ cũng không có hiểu biết gì hơn những người bình thường, và dễ bị các thế lực chính trị lợi dụng.

 

Công lý chuyển đổi (Transitional justice)

Những người am hiểu đều biết rằng cản trở lớn nhất đối với việc đổi mới chính trị ở VN là nỗi lo sợ mất chế độ. Nỗi sợ to lớn ấy đã được thể hiện trong rất nhiều văn kiện đại hội và phát biểu của các lãnh đạo đảng. Cấu trúc chính trị của VN cũng thể hiện sự khác biệt rõ rệt so với nước cộng sản láng giếng. Trung Quốc đã hợp nhất các chức danh Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quân ủy TW từ năm 1993 đến nay. Trong khi ấy, Việt Nam không mặn mà với việc hợp nhất, trừ một giai đoạn ngắn ông Trọng kiêm hai chức TBT, CTN do tình huống đặc biệt. Nguyên nhân chính của điều này (theo như đồn đại) là do lo ngại một Gorbachev sẽ xuất hiện ở chiếc ghế quyền lực quá lớn ấy.

Nỗi sợ ấy không hoàn toàn phi lý. Cuộc chiến 1955-1975 và các trại cải tạo sau 1975 đã để lại oán hận chồng chất đối với hàng triệu người gốc Việt cả trong và ngoài nước. Đó là di sản nặng nề mà các nước khác trong khối XHCN không phải gánh chịu. Cộng thêm những thanh trừng cộng sản triệt để ở Đông Âu thời kỳ 1990s khiến cho các lãnh đạo VN luôn cảm thấy bất an, cảnh giác với mọi nguy cơ dù là nhỏ nhất.

Trong Lý thuyết Chính trị (Triết học Chính trị) có một chủ đề gọi là Công lý Chuyển đổi nhằm trả lời các câu hỏi như “Làm cách nào để một quốc gia có thể chuyển đổi êm đẹp sang một xã hội dân sự sau xung đột hay nội chiến?”, “Các bên cựu thù cần phải ứng xử như thế nào?”. Tiến trình chuyển đổi hậu cộng sản ở Đông Âu cũng thuộc chủ đề này.

(Bài viết dưới đây tóm tắt một số tư tưởng từ mục Công lý Chuyển đổi của Stanford Encyclopedia of Philosophy)

 

CÓ CẦN THIẾT PHẢI THA THỨ??

Tổng Giám mục Desmond Tutu đã viết cuốn sách có tên là “Không có tương lai nếu không tha thứ” để nói về Uỷ Ban Hòa giải và Sự thật của Nam Phi. Theo ông, chỉ khi tha thứ người dân Nam Phi mới có thể xây dựng nền dân chủ thật sự. Tuy nhiên, lợi ích của tha thứ có thể đánh đổi công lý và sự thật?

Lập luận phổ biến nhất để biện minh cho sự tha thứ là giải phóng cả tội phạm và nạn nhân thoát khỏi vòng xoáy vô tận của oán hận và trả thù, sau các cuộc xung đột và nội chiến. Đó là cách duy nhất để chấm dứt một chu trình lịch sử phức tạp và đau đớn. Thậm chí những người có liên quan cũng bị vạ lây. Như câu nói nổi tiếng của Gandhi: "Một con mắt có thể khiến cả thế giới mù lòa." Tuy nhiên tha thứ không phải là cách duy nhất để dập tắt mong muốn trả thù. Bởi lẽ có thể tránh xa sự trả thù mà không cần tha thứ. Nạn nhân đơn giản chỉ cần rời bỏ nơi mình bị hại. Chẳng hạn, hàng trăm ngàn người Palestine từ Bờ Tây và dải Gaza đã lặng lẽ di cư đến châu Âu và Bắc Mỹ. Hầu hết những người sống sót khỏi thảm họa diệt chủng không hứng thú với việc tha thứ hay báo thù đã di chuyển hàng nghìn dặm khỏi nơi đã gây ra đau khổ cho họ và thề không bao giờ trở lại. Những người khác thay thế việc báo thù bằng việc góp công sức xây dựng các bảo tàng chứng tích tội ác.

Nhiều người còn cho rằng tha thứ là quyền riêng của mỗi nạn nhân và không nên biến nó thành một chính sách. Ví dụ, cô Jane bị mất một chân trong một cuộc đánh bom. Cô đã tha thứ cho những kẻ đã lên kế hoạch tấn công. Bố mẹ cô cũng có thể tha thứ nhưng mức độ thương tổn của họ có thể khác nhau. Jane đau đớn về thể xác, nhưng bố mẹ cô có thể đau đớn về tinh thần nhiều hơn. Tuy nhiên, những người hàng xóm của cô Jane không nhất thiết phải tha thứ. Những người mà Jane chưa bao giờ gặp có quyền lo sợ những vụ việc tương tự sẽ xảy ra cho nên cũng không nhất thiết phải tha thứ. Mặt khác, một chính sách khuyến khích nạn nhân tha thứ có nguy cơ khoét sâu thêm vết thương của họ. Nạn nhân có thể nghĩ rằng những đau thương họ phải gánh chịu chưa đủ hay sao, mà còn mong đợi họ tha thứ? Và như vậy có thể thổi bùng lên thay vì dập tắt sự oán hận đối với tội phạm và chính quyền mới.

Trước đây, có nhà văn từng kêu gọi các thân hữu của chế độ VNCH từ bỏ cờ vàng vì lợi ích chung hòa hợp, hòa giải dân tộc. Điều đó vừa bất khả, vừa gây thêm những thương tổn không cần thiết. Nói chung, không nhất thiết phải vận động tha thứ để tránh báo thù mà cần tạo điều kiện cho họ giải tỏa oán thù thông qua các ấn phẩm, diễn đàn, nhà bảo tàng, bia tưởng niệm. Khuyến khích họ rời xa nơi bị hại cũng là giải pháp.

 

UỶ BAN SỰ THẬT VÀ HÒA GIẢI

Hầu hết mọi chuyển đổi của các quốc gia có xung đột và nội chiến từ Thế chiến II đến nay đều dẫn đến vô số căng thẳng và bất mãn. Cần có các thể chế linh hoạt để dung hòa lợi ích của các bên và UBSTHG là một dạng thể chế như vậy. Các ủy ban này có ít quyền lực cưỡng chế hơn so với tòa án, bởi họ không thể bắt chính phủ thực hiện các khuyến nghị. Tuy nhiên quy mô điều tra của họ rộng hơn và đặt nạn nhân vào trung tâm của quá trình điều tra. Do vậy có tính tin cậy về đạo đức và hợp pháp. Nhiều nước tương đối thành công với các UBSTHG như Nam Phi, Argentina, Chile và El Salvador. Báo cáo của có tựa đề ‘Never Again’ của UBSTHG Argentina đã trở thành một trọng những cuốn sách bán chạy nhất trong lịch sử nước này.

Quá trình chuyển đổi dân chủ ở Tây Ban Nha phức tạp đến nỗi người dân nước này phải đi đến một “hiệp ước lãng quên”. Trong ba thập kỷ liền, người Tây Ban Nha không nhắc đến những vi phạm nhân quyền thời nội chiến và thời kỳ nhà độc tài Franco lãnh đạo. Điều này đã giúp cho dân tộc này đoàn kết các phe phái, cùng xây dựng một nền dân chủ thật sự.

Ở Nam Phi, Đảng Quốc Gia đe dọa sẽ xảy ra nội chiến nếu Quốc hội đòi đưa các quan chức dưới thời Apartheid ra tòa. Những tranh cãi gay gắt xảy ra xung quanh đến các lệnh ân xá của Ủy ban đối với các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đã khiến cho nhiều người phẫn nộ. Uỷ Ban đã ân xá cho nhiều người trong lực lượng an ninh với những tội ác khủng khiếp để đổi lấy lời khai, trong khi các nạn nhân và gia đình bị từ chối tiếp cận tòa án. Một số nhà nghiên cứu chỉ trích rằng nỗ lực tạo ra sự đoàn kết xã hội cũng không thể biện minh cho những lệnh ân xá đó. Tuy nhiên, sự nhẫn nhịn của Ủy ban đã đóng góp đáng kể vào tiến trình dân chủ hóa.

UBSTHG của Chile đã công bố báo cáo về các vi phạm nhân quyền trong suốt 17 năm trị vì của tướng Pinochet. Lực lượng an ninh Chile thời Pinochet đã bí mật tra tấn, bắt cóc và hành quyết nhiều người. Năm 1978, Pinochet ban hành lệnh ân xá rộng rãi, bảo vệ tất cả các thành viên của lực lượng an ninh, và điều đó tạo ra một môi trường pháp lý rất phức tạp. Uỷ ban, do vậy, chỉ có thể tập trung vào các trường hợp bị hành quyết và tra tấn đến chết nhưng không có cách nào buộc các thành viên của lực lượng an ninh làm chứng. Uỷ ban đã xem xét 3400 trường hợp và công bố báo cáo dài 1800 trang lên án Pinochet và các tướng lĩnh của ông. Tác động của báo cáo bị giảm sút nhiều do các chiến binh thiên tả thực hiện một loạt cuộc tấn công ngay sau khi nó được công bố. Tuy nhiên báo cáo đã đóng vai trò quan trọng để tạo ra chương trình bồi thường cho thân nhân các nạn nhân chế độ Pinochet. Ngoài ra, còn báo cáo còn là cơ sở để bắt giữ Pinochet ở Anh.

Ở El Salvado, cuộc chiến 12 năm đã cướp đi sinh mạng của 75000 công dân, trong đó quân đội đã tham nhiều vụ bắt cóc, tra tấn, hành quyết quy mô lớn. UBSTHG hoạt động trong vòng 8 tháng, với các thành viên do Tổng thư lý Liên Hợp Quốc bổ nhiệm bao gồm một số chính trị gia và thẩm phán người Nam Mỹ. Do sự thù hận giữa các bên, không người Salvador nào được tham gia Ủy ban. Uỷ ban đã thu thập lời khai về 7000 trường hợp vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và lập báo cáo tố cáo 40 quan chức chính phủ và quân đội. Nhưng rất nhanh sau đó, luận ân xá được thông qua cho nên nhiều khuyến nghị của Ủy ban không còn giá trị.

Ở Rwanda, Tòa án Hình sự Quốc tế đã truy bắt một số kẻ phạm tội diệt chủng đầu sỏ. Tuy nhiên tòa án này không có khả năng trừng phạt tất cả những kẻ dính dáng đến các vụ diệt chủng bởi như vậy sẽ mất vài thế kỷ. Do vậy, các luật gia đã lập ra các “Tòa án cỏ” để ghi nhận một số tội ác và ân xá cho hàng trăm nghìn tội phạm. Điều này đã giúp đem lại sự ổn định cho nước này.

 

THANH LỌC NHÂN SỰ CAO CẤP

Thanh lọc là quá trình chọn lựa các công chức của chế độ cũ tham gia vào các vị trí quan trọng của chế độ mới và bãi bỏ những người không phù hợp. Quá trình này thường gắn liền với việc chuyển đổi từ một chế độ độc tài sang một chế độ dân chủ.

Sau Thế chiến II, Đồng minh chủ trương xóa sạch mầm mống phát xít Đức. Các siêu cường Mỹ, Anh, Liên Xô đã nhất trí kế hoạch phi hạt nhân hóa nước Đức tại hội nghị Potsdam. Hiệp định Potsdam ngày 2/8/1945 đã tạo cơ sở cho Đồng minh truy quét chủ nghĩa Quốc xã và những kẻ tôn sùng chủ nghĩa này. Hiệp định này yêu cầu Hội đồng Kiểm soát, bao gồm bốn thống đốc của quân đội đồng minh ở Đức, giải tán Đảng Quốc xã và các tổ chức liên đới và đảm bảo chúng không thể hồi sinh dưới bất kỳ hình thức nào. Hiệp định này cũng xóa bỏ tất cả các tổ chức cảnh sát, cơ quan giám sát chính trị, đồng thời loại bỏ tất cả các luật "phân biệt đối xử vì lý do chủng tộc, tín ngưỡng hoặc quan điểm chính trị". Một trong những hoạt động quy mô nhất của Hội đồng Kiểm soát là kêu gọi bắt giam tự động bất kỳ ai có liên quan với cảnh sát và cơ quan an ninh của Quốc xã, các sỹ quan cấp bậc thiếu tá trở lên trong lực lượng vũ trang, các thành viên cấp cao của Đảng Quốc xã và Chính phủ.

Sự sụp đổ của CHDC Đức năm 1990 dẫn đến sự cải tổ hoàn toàn các cơ quan hành chính của Đông đức. Các công chức cũ ở Đông đức bị truy xét hồ sơ để đảm bảo chỉ giữ lại những người phù hợp về mặt chính trị với chế độ mới. Những người này phải nộp đơn xin vào các vị trí hiện đang nắm giữ và có thể bị từ chối nếu từng liên hệ với STASI hoặc các tổ chức chính trị Cộng sản. Ban lãnh đạo cũ của Cộng hòa Dân chủ Đức bị xét xử tại các tòa án ở Tây Berlin về các tội liên quan đến chính sách biên giới, gian lận bầu cử, tham nhũng, biển thủ công quỹ. Việc truy tố diễn ra theo hình thức hỗn hợp, vừa theo luật hình sự của Đông Đức nhưng với các thủ tục tòa án của Tây Đức.

Hiệp định Potsdam kêu gọi loại bỏ những người thân cận Đức Quốc xã cả ở các cơ quan công quyền, bán công, và các vị trí phụ trách các tổ chức tư nhân quan trọng. Quá trình loại bỏ cũng bao gồm tịch thu tài sản của tất cả các tổ chức liên quan đến quốc xã, các quan chức cao cấp, và thay đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục. Đồng minh cấm trưng bày “quân phục, phù hiệu, huy chương”, trình diễn “quốc ca, âm nhạc, và kiểu chào” của Quốc xã, một chính sách có hiệu lực ngay cả sau khi quyền kiểm soát chính trị được trao trả cho người Đức. Tuy nhiên, một vấn đề phát sinh là sự thiếu hụt những người chống phát xít đủ năng lực để tham gia vào chính phủ, đặc biệt là tham gia vào hệ thống tòa án để xét xử các cựu thành viên Đảng quốc xã. Sự thiếu hụt này, cộng thêm sự tác động của các quan chức Tây Đức đã dẫn đến nhiều trục trặc trong chính quyền.

Năm 1991, Quốc hội Séc và Slovakia đã thông qua luật cấm các cựu quan chức Đảng CS, các thành viên của Lực lượng An ninh Quốc gia, và Dân quân Nhân dân dưới thời cộng sản được nắm giữ nhiều vị trí dân cử và thành viên trong chính phủ mới trong thời hạn 5 năm. Tại Hungagy, Tòa án Hiến pháp Hungagy đã kết luận vụ đàn áp năm 1956 là "tội ác chiến tranh" và "tội ác chống lại loài người". Cả hai vụ này đều không có thời hiệu hữu hạn. Năm 1994, Quốc hội Hungary đã ban hành sắc lệnh truy xét 12000 công chức để tìm kiếm những người đã cộng tác với cảnh sát mật trong thời kỳ Cộng sản. Thời gian truy xét kéo dài 6 năm và kết quả được lưu giữ bí mật 30 năm. Do một số điều khoản của luật này bị coi là vi hiến, Quốc hội đã thông qua luật mới năm 1996 về việc sàng lọc tất cả các cá nhân sinh trước ngày 12/2/1972 trước khi đảm nhận chức vụ cao hơn để ngăn chặn các cựu điệp viên và quan chức của Cơ quan An ninh Cộng sản tham gia chính quyền mới. Nếu quan chức bị thanh lọc không chịu từ chức trong vòng 30 ngày, kết quả điều tra sẽ được công bố trước công chúng và người đó sẽ phải chịu sỉ nhục.

Sau cuộc chiến Irag năm 2003, chính quyền Bush theo đuổi chính sách loại trừ đảng Baath để thanh trừng những người ủng hộ Saddam Hussein. Các quan chức cao cấp của đảng này bị cấm tham gia vào toàn bộ các vị trí của chính quyền hậu Saddam, trong khi các thành viên bình thường bị ngăn cản bổ nhiệm vào các vị trí cao cấp của chính phủ. Ngoài ra, lực lượng quân đội và cảnh sát Iraq bị giải tán dẫn đến một lượng lớn quân nhân mất việc làm. Những cựu quân nhân và cảnh sát này đã tức giận và quay sang chống lại quân đội Mỹ đang giám sát việc tái thiết và dân chủ hóa Iraq. Kết quả của cuộc thanh lọc này dẫn đến thiếu hụt trầm trọng nhân lực để biên chế cho bộ máy hành chính, lực lượng quân sự và cảnh sát mới. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của chính quyền. Sai lầm này cũng cản trở nỗ lực ổn định Iraq và gây ra nhiều cuộc bạo loạn, khiến cho Iraq kéo dài sự bất ổn định đến 8 năm về sau.

Những sự thanh lọc này làm chúng ta liên tưởng đến sự thanh lọc công chức ở miền nam VN sau 1975. Tuy nhiên, chủ nghĩa lý lịch mới là thứ phi lý và nặng nề nhất ở VN, đã kéo dài đến hơn một thập kỷ sau đó, đã hủy hoại tương lai của nhiều thế hệ con cháu các quân cán chính VNCH và hậu duệ của những người từng làm việc cho chính quyền pháp thuộc. Nếu như chủ nghĩa lý lịch được áp dụng ở Đức thì một bí thư đoàn thanh niên cộng sản như Angela Merkel không thể có cơ hội trở thành Thủ tướng Đức 16 năm sau đó.

Dù sao, những người hiểu biết vẫn tin rằng cải cách chính trị ở Việt Nam hiện nay là nghĩa vụ của Đảng CS đối với dân tộc. Đảng CS có thể tham vấn các chuyên gia quốc gia và quốc tế để tiến hành đổi mới chính trị như đã từng đổi mới kinh tế cách đây 30 năm mà không cần phải lo lắng về những sự thanh lọc nghiêm trọng. Vấn đề là họ có thiện chí thực hiện hay không mà thôi.

 

Công ước 98 và 87

 Việt nam đã thông qua CPTPP và Công ước 98 về Quyền Tổ chức Thương lượng Tập thể. Thậm chí trong Bộ luật Lao động 2019 đã có điều luật cho phép công nhân thành lập công đoàn độc lập ở cơ sở, một sự điều chỉnh để phù hợp với CPTPP và Công ước 98. Dự kiến 2023, Việt Nam sẽ thông qua nốt Công ước 87 về Quyền Tự do Lập hội. Hiện nay Bộ Lao Động cũng đã thành lập Bản tin Quan hệ Lao động, phát hành hàng Quý. Cũng cần phải ghi nhận những nỗ lực của Đảng về các vấn đề này, bởi lẽ Việt Nam đang đi trên con đường rất khác Trung Quốc. Đến giờ phút này Trung Quốc vẫn tuyệt đối im lặng không bàn bạc về các Công ước này, chứ đừng nói đến thông qua.

Theo phân tích của một số luật gia, Công ước 98 và 87 là hai mặt của một đồng xu. Phải có Công ước 87 thì Công ước 98 mới có ý nghĩa. Các nhà nghiên cứu luật cũng đã chỉ ra một số bất cập của quy định trong Bộ luật Lao động, chẳng hạn như chưa có quy định số lượng thành viên tối thiểu để thành lập công đoàn, về việc các lãnh đạo doanh nghiệp có được phép tham gia ban lãnh đạo công đoàn độc lập hay không, hoặc tỷ lệ người ngoài doanh nghiệp có thể tham gia lãnh đạo các công đoàn đó.

Điều đáng nói là đã có khá nhiều người dân và các nhà hoạt động đối lập viết bài chỉ trích, nghi ngờ việc thông qua các công ước đó, tuy nhiên không ai nêu lại những vấn đề mà các nhà nghiên cứu luật đã nêu. Mặc dù chỉ cần google là ra các bài nghiên cứu đó.

Đấy là lý do nghiên cứu rất quan trọng đối với việc thúc đẩy đổi mới chính trị ở Việt Nam. Mới đây, tôi được một người bạn cho biết là chính phủ cần thêm nhiều nghiên cứu về các lĩnh vực KHXH khác như Kinh tế Lao động, Quản lý Nguồn nhân lực, Xã hội học về các chủ đề kể trên, chứ không chỉ cần các nghiên cứu luật học. Bởi lẽ họ vẫn lo ngại không quản lý được. Thông qua luật rồi còn phải có các văn bản giải thích luật, và cơ chế để thực thi. Nếu thiếu người nghiên cứu thì các luật đó sẽ bị trì hoãn mãi.

Chỉ trích phê phán luật pháp, cơ chế, chính sách là cần thiết. Nhưng như vậy là chưa đủ. Phải có các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp để xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách và thúc đẩy chúng đi vào thực tiễn.

TRÔNG NGƯỜI MÀ NGẪM ĐẾN TA

Nền chính trị Mỹ có đội ngũ chuyên gia thuộc nhóm mạnh nhất thế giới, vậy mà còn lao đao khi có một thế lực đủ mạnh kích động nhân dân thách thức luật pháp. Ví dụ điển hình là đợt bầu cử tổng thống cuối năm 2020, dẫn đến vụ bạo loạn tấn công toà nhà quốc hội Mỹ ngày 6/1/2021. Trong vụ này, thế lực đủ mạnh là Trump và những chính trị gia trung thành với ông ta. Nếu các lãnh đạo cộng hòa quyết tâm đảo ngược kết quả bầu cử bằng được thông qua phủ quyết của thượng viện và hạ viện thì rất dễ xảy ra nội chiến. Bởi vì 80 triệu người đã bầu cho Biden, đã chứng kiến 538 đại cử tri xác nhận Biden chiến thắng, đâu có chịu chấp nhận như vậy.

Trong khi đó, đội ngũ chuyên gia của nước ta đang ở đâu??

Thật ra, nâng cao dân trí chính trị thì quan trọng nhất là tăng cường năng lực cho đội ngũ chuyên gia, nghĩa là xây dựng đội ngũ chuyên gia về các vấn đề đổi mới chính trị, dân chủ, nhân quyền. Đó mới là công việc vừa khó, vừa lâu, nhưng có ý nghĩa lâu dài đối với quốc gia để xây dựng một nhà nước mạnh. Không phải chỉ cần đào tạo, có cái bằng là xong mà người học còn cần phải trải nghiệm làm việc thực tế. Hoặc một người phải trải qua nhiều năm làm việc ở khu vực công, đặc biệt là kinh nghiệm lãnh đạo dân cử (có kinh nghiệm ở những cộng đồng có tỷ lệ dân trí thấp lớn. Việc phổ biến kiến thức chính trị hay quyền dân sự dân thì chỉ vài tháng là xong, một khi đó là chủ trương của nhà nước. Nhiều người lề trái nghĩ rằng nâng cao dân trí chính trị cho dân để người ta đấu tranh. Nhưng trên thực tế bao nhiêu năm nay, số người đấu tranh vô cùng ít. Áp lực quá yếu, ý kiến tản mát, không thực tế, thậm chí bệnh hoạn, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, khiến đảng cộng sản nghĩ rằng đấy là những người không hiểu gì về quản trị nhà nước (QTNN), không có những suy ngẫm sâu sa về nguy cơ bất ổn xã hội. Thế nên công an dẹp hết.

Nước nào cũng đại đa số đân là dân trí thấp. Việt Nam hiện này có khoảng 29% số người trong tuổi học đại học, từ 18-29, đã hoặc đang tham gia học đại học. Có nghĩa là số người thật sự tốt nghiệp còn ít hơn nữa, có lẽ chỉ khoảng 27-28%. Có thể khẳng định đa số những người không có trình độ đại học khó có khả năng hiểu được những vấn đề phức tạp của quốc gia, mặc dù một tỷ lệ không nhỏ những người có trình độ đại học trở lên cũng vậy. Do vậy, sẽ không thái quá khi nói rằng đa số dân Việt là dân trí thấp. Dân Việt hay dân Mỹ đều sẽ phản ứng cảm tính giống nhau. Thế nên quan trọng nhất là xây dựng một nhà nước mạnh với đội ngũ chuyên gia giỏi.

Ở tất cả các quốc gia, các chuyên (các giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, và các nhà nghiên cứu khác) là những người thiết kế, soạn thảo mọi luật lệ, cơ chế, chính sách liên quan đến chính trị, chứ không phải chuyên viên của các bộ ngành, càng không phải các chính trị gia. Các vấn đề quan trọng liên quan đến đổi mới chính trị đều là các vấn đề phức tạp, phải nghiên cứu. Và các nhà nghiên cứu chính là những người thực hiện các nghiên cứu đó. Họ cũng chính là những người sẽ soạn thảo mọi thứ tài liệu nâng cao dân trí cho dân. Chuyên viên các bộ ngành chỉ quản lý các tài liệu đó, hoặc soạn thảo những văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách đơn giản. Các chính trị gia chỉ thực hiện chức năng phê duyệt các văn bản luật lệ, cơ chế và chính sách. Họ đợi các chuyên gia và chuyên viên đệ trình các văn bản đó để quyết định Đồng ý, Không đồng ý. Ngay cả việc Đồng ý hay Không đồng ý, họ cũng cần có nhiều chuyên gia cố vấn.

Lề trái cũng có nhiều học giả, chuyên gia, nhiều nhà nghiên cứu các ngành, nhưng không đúng những ngành liên quan đến QTNN. Chính vì vậy, những đề xuất của họ không thực tế, không hơn gì những người dân bình thường khác. Lấy ví dụ để đổi mới chính trị biến Việt Nam thành một nhà nước phúc lợi như Thụy Điển cần 1000 bước. Những người nảy đề xuất ngay bước thứ 500, 600 vì họ không có những kiến thức cơ bản về QTNN. Ngay cả về nâng cao dân trí, họ cũng không hiểu rằng xây dựng đội chuyên gia là quan trọng nhất. Chính các chuyên gia đó sẽ là những người soạn thảo những tài liệu để nâng cao dân trí. Mỗi người đều có “ego” rất lớn. Rất khó có thể thuyết phục những người không có những kiến thức cơ bản hiểu và thay đổi ý kiến. Chưa kể những lý do chính trị ẩn đằng sau khiến cho việc thay đổi ý kiến của họ là hầu như bất khả.

Ai đang soạn thảo Luật biểu tình, Luật hiệp hội? Ở nước ta, đấy là các chuyên gia luật học. Đúng ra thì ở các nước phát triển, không phải chỉ có các chuyên gia luật mà cần cả các chuyên gia các ngành khác như khoa học chính trị, xã hội học, tâm lý, kinh tế…tham gia những đề án xây dựng những luật đó. Bởi lẽ, ngành luật mạnh về lý luận nhưng thường yếu về điều tra, thống kê. Trong khi đó, rất cần các chuyên gia của các ngành KHXH thực hiện các điều tra, thống kê đó để tìm hiểu nhu cầu thật sự của người dân về các vấn đề đó và đánh giá các nguy cơ bạo loạn. Đánh giá và dự báo hậu quả của biểu tình và đình công đối với doanh nghiệp, người lao động và xã hội nói chung là do các ngành KHXH thực hiện.

Ai soạn thảo các luật lệ, cơ chế chính sách về công đoàn độc lập? Đấy là các chuyên gia về luật học, khoa học chính trị, kinh tế lao động, kinh tế chính trị, xã hội học…Có nhiều người đòi Việt Nam cần phát triển xã hội dân sự. Thế nhưng rất cần phát triển đội ngũ chuyên gia về Xã hội Dân sự (xã hội học chính trị, khoa học chính trị, kinh tế chính trị...) để xây dựng luật lệ, cơ chế chính sách để quản lý, điều phối những thể chế đó.

Bây giờ đâu còn là thời của Phúc Trạch Dụ Cát, như cách đây gần 200 năm, một cá nhân chỉ cần đọc mấy chục cuốn sách best-sellers là có thể trở thành nhà tư tưởng, dẫn dắt quốc gia đến tương lai huy hoàng. Mỗi lĩnh vực đều có hàng triệu tài liệu hàn lâm và tài liệu chính sách để tham khảo. Cần phải học tập bài bản để có thể trở thành chuyên gia để hiểu được “ngôn ngữ chung” của ngành và “không cố gắng phát minh lại cái bánh xe”. Ngoài ra phải tôn trọng các chuyên gia, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với họ để có thể trao đổi ý kiến thường xuyên nhằm nâng cao tri thức của mình. Dĩ nhiên, học tập là quá trình cả đời. Bản thân các chuyên gia cũng phải thường xuyên trao đổi với các chuyên gia khác và những người có những kinh nghiệm thực tiễn tiếp xúc với người dân: ví dụ các chính trị gia, những người lãnh đạo dân cử, để nâng cấp trình độ.

Những người lề trái thích thực hành các hoạt động chính trị có thể tiếp tục công việc của họ, bởi đấy là sở trường và mối quan tâm của họ, và đương nhiên cũng có tác dụng nào đó. Tuy nhiên, nếu đội ngũ chuyên gia về đổi mới chính trị quá yếu thì sẽ không thuyết phục được đảng cộng sản quan tâm đúng mức đến các vấn đề tự do và dân quyền. Hơn nữa, ngay cả khi quan tâm, họ cũng cần chuyên gia cố vấn 10 bước đầu tiên, và thiết kế các bước tiếp theo, chứ không phải là bước thứ 500, 600.

Hiện nay, số người có bằng cao học trở lên về các ngành luật, quản lý công, kinh tế, xã hội học...cũng không phải là ít. Nhưng số người quan tâm và có kinh nghiệm thực tiễn về nghiên cứu, soạn thảo, tư vấn, phản biện chính sách về những vấn đề đổi mới chính trị vẫn còn rất hiếm. Thế nên cần phải đào tạo thêm những người thật sự quan tâm. Bản thân những người đã có kiến thức cơ bản và tâm huyết với đổi mới chính trị cũng phải tự nghiên cứu, để nỗ lực trở thành chuyên gia về lĩnh vực ấy.

Bước đầu tiên của Phúc Trạch Dụ Cát để canh tân nước Nhật cũng là đào tạo chuyên gia. Ông đã xúc tiến gửi mấy trăm người Nhật sang phương tây để học hỏi văn minh của họ.

 

Nếu bức xúc với tình hình Việt Nam, hãy tham gia các hội thảo chính sách

 NẾU BỨC XÚC VỚI TÌNH HÌNH VIỆT NAM, HÃY THAM DỰ CÁC HỘI THẢO CHÍNH SÁCH

 Tôi đã nghe rất nhiều người nói đại loại như: “Mấy nhà khoa học tháp ngà thì biết gì về chuyện nên cho học sinh nghỉ học phòng dịch Covid hay không?”, “Mấy ông giáo sư thì biết gì về chính trị mà bàn?”. Những người này không hiểu rằng các nhà nghiên cứu “tháp ngà” (đặc biệt các nhà nghiên cứu của các ngành KHXH&NV) chính là những người thiết kế, đề xuất các luật lệ, cơ chế, chính sách với chính phủ. Họ cũng chính là những người tư vấn, phản biện luật, cơ chế, chính sách đối với chính phủ. Đảng và chính quyền chủ yếu lắng nghe ý kiến của các nhà nghiên cứu đó chứ không lắng nghe “dư luận” nói chung, bởi “dư luận” thường bị dẫn dắt bởi những người không hiểu biết về chuyên môn, không có thiện chí, thậm chí thù địch (trừ phi “dư luận” tạo ra một áp lực rất mạnh về vấn đề cụ thể nào đó. Dĩ nhiên, không phải nhà nghiên cứu KHXH&NV nào cũng biết điều đó, do họ không có cơ hội thiết kế, tư vấn, phản biện luật và chính sách).

Tất cả các vấn đề quan trọng và phức tạp về chính trị, luật, cơ chế và chính sách xã hội Việt Nam đều phải nghiên cứu. Các nhà khoa học “tháp ngà” về KHXH&VN chính là những người nghiên cứu, đề xuất các luật, cơ chế, chính sách đó. Họ là những người có chuyên môn.

Lấy ví dụ về dịch Covid hiện nay, nhóm những người không muốn cho học sinh đi học ngay chỉ là một nhóm lợi ích. Nhóm những người muốn cho học sinh đi học ngay là một nhóm lợi ích khác. Chính phủ lắng nghe các nhà nghiên cứu bởi vì họ là người tập hợp ý kiến của tất cả các nhóm lợi ích, nghiên cứu thêm kinh nghiệm của các nước khác, rồi đưa ra quan điểm cuối cùng chính phủ nên làm gì.

Một số người còn phẫn nộ cho rằng “Người dân nói thì chính quyền có thèm nghe đâu. Tất cả những người can đảm nhất dám đấu tranh đều phải đi tù”. Họ không hiểu rằng Quản trị Nhà nước là một ngành chuyên môn giống như Vật lý, Hóa học. Phải học hoặc ít ra phải có kinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực đó thì mới có thể cho ý kiến chính xác. Tôi nghĩ rằng tất cả những người bị đi tù về các lý do liên quan đến các hoạt động chính trị, xã hội thời gian gần đây đều thiếu hiểu biết về quản trị nhà nước. Thậm chí, nhiều khi họ bị các lực lượng có nhiều thù hận kích động. Đương nhiên, người dân của một quốc gia do “dân làm chủ” có quyền đòi hỏi bất kỳ cái gì. Nhưng họ cũng cần ý thức được về sự kém hiểu biết của mình.

Như tôi đã viết trong loạt bài về “Quản trị Nhà nước” (có thể tìm trên Timeline của tôi), hiện nay trình độ đội ngũ chuyên gia của tất cả các ngành (bao gồm các nhà nghiên cứu) của VN vẫn kém rất xa các nước phát triển trong khu vực chứ chưa nói đến thế giới. Sự khác biệt rất lớn giữa nền dân chủ non nớt của Châu Phi (và các nước châu Á mấy chục năm trước đây) với nền dân chủ vững chãi ở Tây Âu, và Bắc Mỹ có một nguyên nhân rất quan trọng là trình độ của đội ngũ chuyên gia của Âu, Mỹ trình độ vượt xa Á, Phi.

Thế nên nếu bức xúc với tình hình Việt Nam thì phải học hỏi, học hỏi bài bản thì càng tốt, để tham gia phản biện chính sách một cách hữu ích nhất. Ngoài ra, rất nên tham dự các hội thảo chính sách.

Có hai loại hội thảo, tôi tạm gọi là Hội thảo Khoa học và Hội thảo Chính sách. Hội thảo Khoa học thường bàn về những chủ đề chung nào đó: ví dụ Hội nhập Quốc tế. Hội thảo Chính sách thì bàn về một vấn đề cụ thể nào đó: ví dụ hội thảo về luật đặc khu, luật an ninh mạng, các trạm thu phí BOT, hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông hoặc các hội thảo về tranh chấp đất đai... Thông thường, tất cả những vụ việc nóng bỏng gây nhiều tranh cãi trong xã hội đều có các hội thảo. Các bạn nên tham dự các hội thảo do các viện nghiên cứu/trường đại học, hoặc các bộ ngành tổ chức. (Còn những hội thảo do những người không có chuyên môn, hoặc các nhà hoạt động chính trị, xã hội tổ chức thì tham gia cũng được, nhưng nhiều khi ý kiến thiên lệch do không hiểu biết về quản lý nhà nước, hoặc chỉ phản ánh ý kiến của một nhóm lợi ích, nhiều khi bị những tư duy thù hận chi phối).

Tham dự thật nhiều hội thảo chính sách như vậy sẽ giúp các bạn hiểu về các hoạt động lập pháp và hoạch định chính sách, tư duy một cách cẩn trọng, có trách nhiệm. Ngoài ra có thể trao đổi trực tiếp với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực đó. Nhiều nhà nghiên cứu không bao giờ nói ý kiến thật của họ trên Facebook hay với báo chí, nhưng trao đổi trực tiếp hoặc với những người thật sự tâm huyết thì họ sẽ nói. (Nhiều khi các hội thảo Khoa học cũng có những bài báo đơn lẻ đề cập đến những vấn đề gây nhiều tranh cãi. Có thể đến đó gặp và trao đối với các tác giả đó).

Một ví dụ đơn giản: chủ trương tăng tuổi hưu đã được giới nghiên cứu tương đối nhất trí, thế nhưng tăng mỗi năm 3 tháng hay 6 tháng để đạt tới mức cuối cùng cũng khiến giới nghiên cứu tranh cãi mãi. 3 tháng thì quá chậm nhưng 6 tháng thì quá nhanh, dễ gây sốc cho xã hội một cách không cần thiết. Hoặc vụ Luật đặc khu năm 2018, đa số giới nghiên cứu kinh tế không lo ngại về vấn đề quốc phòng như công chúng mà họ chỉ lo ngại không hiệu quả về mặt kinh tế. (Lý do: luật pháp VN hiện nay không cấm Trung Quốc đầu tư vào 3 khu vực đó. Vậy nếu Trung Quốc có mưu đồ biến nơi đó thành căn cứ chiến lược thì đâu cần lợi ích giảm thuế cỏn con của Luật đặc khu thì mới vào đầu tư).

Nếu các hội thảo chính sách khiến cho những người bức xúc cảm thấy cần nâng cấp trình độ về quản lý nhà nước(ví dụ theo học các khoa học bài bản), hoặc những người đã có nền tảng về KHXH&NV đầu tư thời gian theo đuổi nghiên cứu một chủ đề nào đó thì rất tốt. Quan điểm của tôi, nâng cao dân trí chính trị quan trọng nhất ở VN là xây dựng đội ngũ chuyên gia vững mạnh, chứ không phải là phổ biến các tài liệu linh tinh dành cho đại chúng. Đội ngũ chuyên gia đó chính là nền móng của một nhà nước mạnh.