Sunday, August 24, 2025

Nhà nước nên quản lý lâu dài việc phân phối nhà ở xã hội

 Tại sao chuyện quản lý mua bán nhà ở xã hội lại khó khăn thế nhỉ. Nhiều người rất giầu nhưng vẫn tìm cách mua nhà ở xã hội để kinh doanh, trong khi vô số người trẻ đi làm cả đời cũng không đủ tiền mua nhà. Tôi có mấy ý kiến thế này:

1. Xét duyệt kỹ hồ sơ. Chỉ những người ít bất động sản và tài sản nói chung ( tính về giá trị) và đã làm việc ở khu vực đó ít nhất 5 năm mới được quyền mua noxh.

2. Danh sách khách đăng ký mua và chính thức được quyền mua noxh phải công khai trên website ubnd tỉnh hoặc phường trong nhiều năm. (Đầy đủ tên, tuổi theo cccd, và nơi làm việc).

3. Tổ chức rút thăm những người được quyền mua noxh từ danh sách những người đủ điều kiện đăng ký mua noxh.

4. Nhà nước quản lý vĩnh viễn noxh: nếu người đó mua 1 căn nhà khác có giá trị tương đối cao ở mức nào đó hoặc có những tài sản khác có giá trị, thì phải bán lại noxh cho nhà nước. Giá bán nêu ở mục 5.

5. Nếu vì lý do nào đó muốn bán lại noxh thì chỉ được phép bán cho nhà nước với giá bằng giá noxh ở thời điểm đó. Tuy nhiên, không được quyền bán noxh trong vòng 5 năm sau khi chủ hộ mua nhà.

6. Nói chung không được phép cho những người không phải là họ hàng cấp 1, 2 vào sống chung trong noxh. Trừ phi người đó cũng là đối tượng đủ điều kiện mua noxh ở khu vực đó nhưng ubnd tỉnh không đủ khả năng cho họ cơ hội mua noxh trong tương lai gần. Nhưng đó chỉ là tạm trú, không được phép chia sổ đỏ. Việc tạm trú này cũng phải được sự đồng ý của UBND cấp xã. Khi nào người tạm trú có cơ hội mua noxh thì phải ra khỏi nơi tạm trú.

7. Công an hộ khẩu, phường xã kiểm tra thường xuyên đối tượng sống ở noxh. (Đặc biệt là trong 2 năm đầu tiên). Nếu phát hiện những người không phải là người thân hàng thứ nhất, thứ 2 của chủ hộ, hoặc đối tượng nêu ở mục 6, sống ở đó trong thời gian dài thì chủ hộ sẽ bị phạt, khách bị cưỡng chế ra khỏi nhà.

8. Thừa kế, thuê mướn, tặng cho: được phép thừa kế, thuê mướn, tặng cho người thân hàng thứ nhất và thứ 2, nhưng người thân đó cũng phải đủ điều kiện sở hữu noxh. Không được phép thừa kế, thuê mướn, tặng cho với các đối tượng khác.

9. Bây giờ quỹ noxh còn quá nhỏ thì cần quy định khắt khe như vậy. Khi quỹ dồi dào thì sau khoảng 20 năm sống ở noxh, chính chủ sẽ được quyền sở hữu hoàn toàn căn nhà đó, nhà nước không quản lý nữa.

Vấn đề là nhà nước có muốn quản lý chặt hay không thôi??

 

Lãnh đạo khoa học công nghệ cũng cần am hiểu quản trị, kinh doanh

Đầu năm nay, đảng đã phá vỡ truyền thống hơn 40 năm để bổ nhiệm ông Nguyễn Mạnh Hùng, một doanh nhân có bằng MBA, nhưng không phải là tiến sĩ, làm bộ trưởng Bộ Khoa học & Công Nghệ. (Trước đó ông Hùng là Bộ trưởng Bộ Truyền thông, Thông tin.) Điều này phù hợp với xu thế của thế giới. Trong suốt giai đoạn 1982-2025, các chủ nhiệm Uỷ Ban Khoa học & Kỹ thuật và sau đó là các bộ trưởng Bộ Khoa học & Công Nghệ VN đều là giáo sư, tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, nhưng không có kiến thức về kinh tế, quản trị. Ông Hùng đã có nhiều thành tích phát triển doanh nghiệp từ thời làm lãnh đạo Viettel. Hi vọng ông sẽ gặt hái nhiều thành công trên cương vị mới.

 

Bộ trưởng Bộ khoa học & Công nghệ Trung Quốc hiện nay là Vương Chí Cương. Ông Vương có bằng cử nhân lý thuyết thông tin và tiến sĩ quản trị học, và đã từng là tổng giám đốc một tổng công ty phần mềm máy tính trước khi làm lãnh đạo các bộ ngành.

 

Bộ trưởng Trí tuệ Nhân Tạo và Công Nghệ Số của Pháp hiện nay là Clara Chappaz. Bà Chappaz tốt nghiệp trường kinh doanh Essec và có bằng MBA từ Harvard. Bà có kinh nghiệm phụ trách thương mại và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp.

 

Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu, Công nghệ và Không Gian của Đức hiện nay là Dorothee Bär. Bà Bär tốt nghiệp đại học ngành Khoa học Chính trị, và đã từng có kinh nghiệm làm nhà báo. Sau đó, bà hoạt động chính trị và từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và Cơ sở hạ tầng Kỹ thuật số, trước khi trở thành bộ trưởng.

 

Bộ trưởng Bộ Phát triển Số, Truyền thông và Đa phương Tiện của Nga hiện nay là Maksut Shadayev. Ông Shadayev tốt nghiệp ngành phát triển xã hội và đã có nhiều kinh nghiệm làm lãnh đạo doanh nghiệp và ngân hàng.

 

Bộ trưởng Bộ Chuyển đổi Số Nhật Bản là Masaaki Taira. Ông Taira tốt nghiệp cử nhân luật, đại học Waseda. Ông từng có kinh nghiệm lãnh đạo doanh nghiệp trước khi tham gia chính trường và từng là Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp.

 

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Bộ Công nghiệp và Đổi Mới Úc là Timothy Ayres. Ông Ayres tốt nghiệp chuyên ngành quan hệ công nghiệp, ngành quản lý, đại học Sydney. Sau đó ông trở thành một lãnh đạo công đoàn trước khi tham gia chính trường.

 

Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp Canada, cơ quan phụ trách chính về Đổi mới, Khoa học, và Phát triển Kinh tế của Canada, là Melanie Joly. Bà Joly là một luật gia và đã có nhiều kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tố tụng dân sự và thương mại, luật phá sản và mất thanh khoản trước khi trở thành chính trị gia.

 

Mỹ không có bộ khoa học, công nghệ cấp liên bang. Văn phòng Chính sách Khoa học Công nghệ (OSTP) là nơi chịu trách nhiệm cao nhất về chính sách khoa học, công nghệ của Mỹ. Giám đốc văn phòng này hiện nay là Michael Kratsios. Ông Kratsios được bổ nhiệm khi mới 38 tuổi. Ông tốt nghiệp ngành chính trị học, đại học Princeton. Trước khi trở thành chính trị gia, ông đã có kinh nghiệm quản lý tài chính và phát triển doanh nghiệp cho một số ngân hàng và quỹ đầu tư.

 

SAU TINH GỌN BỘ MÁY: GIẢI PHÁP CẮT GIẢM THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ TƯ NHÂN HOÁ

Mấy tháng nay, phong trào sáp nhập, tinh gọn bộ máy trở nên ồn ào, sôi động. Hôm rồi có bài báo đăng năm ngoái thu ngân sách được 1.7 triệu tỷ thì chi tiêu để nuôi bộ máy đã mất 1 triệu tỷ. (Tuy nhiên, cần so sánh với những số liệu này ở các nước khác). Thế nên sáp nhập, tinh gọn bộ máy là chủ trương đúng đắn. Mấy năm nay các cơ quan công quyền đã có nhiều biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức về hưu sớm. Ngừng tuyển dụng viên chức ở nhiều bộ phận. Hạn chế phong cấp tướng. Thế nhưng sau đó thì làm gì?

 

Vẫn những gương mặt ấy giải quyết một núi công việc, thậm chí số người sẽ giảm đi thì sẽ chỉ khiến hệ thống tăng thêm ách tắc chứ không thể khơi thông được. Hơn nữa, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của việc giảm bớt số người là để tăng lương cho cán bộ/công chức để khuyến khích họ làm việc hiệu quả hơn. Giả dụ trường hợp khả quan nhất là cắt giảm được 50% số cán bộ công chức, nhưng lại cần tăng lương công chức lên gấp đôi thì có thể chi tiêu cho bộ máy không cắt giảm được đồng nào. Đấy là chưa kể từ 2021 đến nay độ tuổi hưu tăng lên, cho nên số lượng biên chế tuyển mới sẽ phải giảm đi. Việc khó thay thế hệ già nua, giáo điều bằng thế hệ công chức/viên chức trẻ khoẻ được đào tạo kiến thức hiện đại sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bộ máy.

 

XÁC ĐỊNH CÁC THỦ TỤC, CÔNG VIỆC DÔI DƯ

 

Tiếp theo việc sáp nhập, tinh giản bộ máy là cắt giảm thủ tục hành chính dư thừa, và chuyển một số công việc ít cần bảo mật cho khối tư nhân làm. Tuy nhiên, tính chất công việc của các phòng ban mỗi bộ ngành lại vô cùng khác nhau. Thế nên chỉ những người trực tiếp làm việc ở các phòng ban ấy mới thật sự am hiểu và có khả năng ra quyết định. Chủ trương “cần cắt giảm ít nhất 1/3 số thủ tục hành chính” là ý tưởng thiếu cơ sở khoa học. Điều chắc chắn, số thủ tục, công việc cần cắt giảm, chuyển đổi của mỗi phòng ban, bộ ngành sẽ hoàn toàn khác nhau. Không thể áp đặt cứng nhắc con số 1/3 đó cho mỗi cơ sở.

 

Làm thế nào để xác định được thủ tục hành chính nào cần cắt bỏ, công việc nào cần chuyển cho khối tư nhân? Mỗi phòng ban cần thiết lập danh sách các thủ tục hành chính, công việc chuyên môn rồi tiến hành điều tra, trưng cầu ý kiến các đối tác có liên quan (v.d., công dân, các tổ chức, doanh nghiệp, chuyên gia). Lãnh đạo các phòng ban sẽ tham khảo kết quả điều tra để xác định danh sách những thủ tục, công việc cần ưu tiên giải quyết trước tiên và theo mức độ quan trọng. Đồng thời họ cần lập kế hoạch bao gồm tiến độ giải quyết các thủ tục, công việc trong danh sách đó.

 

Mỗi bộ ngành đều có các tờ báo riêng phục vụ ngành mình. Các phòng ban cần công khai danh sách các thủ tục hành chính và công việc sắp xếp theo thứ tự ưu tiên giải quyết, cùng với kế hoạch và tiến độ giải quyết trên các tờ báo đó. Các toà báo cần mở các diễn đàn tranh luận để tìm kiếm giải pháp cho các thủ tục, công việc khó khăn, phức tạp.

 

CHỐNG LÃNG PHÍ

 

Các bộ ngành cũng cần công khai danh sách các công trình bỏ hoang, đề án dang dở lãng phí, các cơ chế cồng kềnh khó giải quyết và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên về số tiền đầu tư hoặc theo mức độ ảnh hưởng đối với xã hội. Cần tiến hành điều tra các đối tác để có căn cứ xác định thứ tự ưu tiên đó. Ngoài ra, các bộ ngành cũng cần công khai kế hoạch tiến độ giải quyết các công trình, đề án, cơ chế trong danh sách ưu tiên đó trên các tờ báo ngành và mở các diễn đàn tranh luận về những hạng mục khó giải quyết.

 

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở NHẬT, HÀN, ĐÀI LOAN, TRUNG QUỐC LÀ YẾU TỐ QUAN TRỌNG GIÚP CHO CÁC XỨ NÀY HOÁ RỒNG

 Cuốn sách “Châu Á Vận hành như thế nào” (How Asia works) của Studwell rất nổi tiếng. Ở VN, chắc chắn đã có nhiều người đọc, nhất là giới nghiên cứu kinh tế, chính sách, chính trị. Vậy mà lâu nay, không ai nói về quan điểm về cải cách ruộng đất (CCRD) trong cuốn này khiến cho rất nhiều người Việt hiểu sai về CCRD. Có nhóm nghiên cứu còn tuyên truyền rằng thành công của cải cách ruộng đất ở Nhật Bản là nhờ tướng McArthur của Mỹ và không hề nhắc tới CCRD ở các quốc gia Đông Bắc Á khác. Đấy là quan điểm me tây.

 

Tác giả Studwell giải thích sự khác biệt dẫn đến thành công của các quốc gia Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật, Hàn, Đài Loan) so với Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaisia) trong thời kỳ bắt đầu phát triển là nhờ quyết liệt cải cách ruộng đất.

 

CCRD nghĩa là tước đoạt nhiều đất đai của nhóm nhỏ điạ chủ để chia cho đa số người nghèo. Triết lý ấy chắc chắn trái ngược với triết lý của chủ nghĩa tư bản vốn bảo vệ sở hữu tài sản. Studwell đã giải thích rằng chính quyền Mỹ rất không thích CCRD và cho rằng đó là tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Trên thực tế, CCRD là chính sách đúng đắn, đặc biệt là ở Đông Á, nơi mà chỉ 4-5% địa chủ sở hữu đa số ruộng đất.

Trong khi đó hầu hết nông dân rất nghèo, không có đất canh tác.

 

Ở Trung Quốc, đảng cộng sản đã bắt đầu tiến hành CCRD từ 1920 ở những vùng mà họ quản lý. Chính sách đó rất thành công, nông dân nô nức đi theo đảng cho nên quân đội của Mao liên tiếp chiến thắng và cuối cùng là đánh bại Tưởng Giới Thạch để giành quyền lãnh đạo Trung Quốc. Chính nhờ thành công của Trung Quốc mà giới học giả, chính trị gia Mỹ đã phải đem vấn đề CCRD ra bàn luận. Họ tranh cãi rất gay gắt rồi cuối cùng quyết định thử nghiệm ở Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc (thời Tưởng nắm quyền, 1948). Đó là những nơi mà Mỹ có quyền thao túng chính sách.

 

Wolf Ladejinsky, một cố vấn kinh tế người Mỹ, là người có công lớn nhất trong vận động thử nghiệm CCRD ở Đông Bắc Á, chứ không phải McArthur. Ladejinsky là người Mỹ gốc Ukraina. Ông nói về CCRD như thế này: “Tôi bắt đầu công việc này chủ yếu vì bài học học được từ kinh nghiệm trước khi tôi rời khỏi Nga vào đầu năm 1921, ấy là những người cộng sản có lẽ chẳng bao giờ có được quyền lực chính trị nếu họ không xử lý vấn đề ruộng đất một cách cương quyết, bằng cách giao đất cho nông dân”. Trên thực tế, Ladejinsky đã học hỏi kinh nghiệm CCRD từ Liên Xô.

 

Chính Ladejinsky và các cộng sự đã thuyết phục McArthur triển khai CCRD ở Nhật Bản. Mỗi điền chủ ở Nhật chỉ được phép giữ lại tối đa 3 héc ta đất. Số đất dư thừa sẽ do nhà nước quản lý và phân chia lại cho nông dân không có đất. Khoảng 2 triệu gia đình ít nhiều đã bị mất đất. Nhưng nhờ thế 4 triệu gia đình khác đã có đất nhờ chủ trương này. Nhật Bản đã tiến hành CCRD hết sức thành công, góp phần quan trọng để xoá nghèo, và tạo ra nguồn vốn giúp Nhật công nghiệp hoá.

 

Ở Trung Quốc, đến tận tháng 10/1948, chính quyền Mỹ mới tài trợ cho Tưởng Giới Thạch thử nghiệm cải cách ruộng đất. Chính sách đó được thực thi triệt để hơn ở Đài Loan sau khi Tưởng thua trận phải chạy sang quốc đảo này.

 

Ở Hàn Quốc, tư lệnh Mỹ thời kỳ 1945 phản đối kịch liệt CCRD. Tuy nhiên, Triều Tiên tiến hành CCRD rất thành công. Đa số người dân rất ủng hộ chính quyền. Chính vì vậy, sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên năm 1953, Hàn Quốc đã tiến hành CCRD và cũng khá thành công.

 

Ở VN, Ladejinsky cũng cố vấn cho Ngô Đình Diệm CCRD. Nhưng ông này không thực hiện, thậm chí làm ngược lại. Việt Minh đã CCRD, chia đất cho dân nghèo, nhưng Diệm thì tịch thu lại các đất đai đó để trả lại cho các địa chủ. Đến năm 1958, Ngô Đình Diệm đã khôi phục được kiểu sở hữu đất như thời trước chiến tranh, với 2% chủ đất sở hữu 45% đất đai và khoảng một nửa số người cày không có ruộng. Chính vì vậy mà nông dân bất mãn bỏ theo kháng chiến rất đông. Năm 1969 ông Nguyễn Văn Thiệu mới nghe lời các cố vấn Mỹ thử nghiệm chính sách “Người cày có ruộng”. Chính quyền Mỹ ủng hộ và tài trợ cho ông Thiệu thực hiện chương trình này. Sau này, nhiều Việt kiều ca ngợi chính sách này của ông Thiệu. Nhưng thực chất đây là chính sách CCRD, học hỏi từ triết lý của chủ nghĩa cộng sản. (Đoạn viết về VN là dựa trên wiki, Studwell chỉ nhắc sơ qua về việc Mỹ cố vấn cho ông Thiệu CCRD năm 1969).

 

Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc rất tàn bạo bởi vì có đấu tố, hành hạ địa chủ. VN cũng mắc phải một số sai lầm như vậy và đảng cũng đã thừa nhận. Tuy nhiên, nói chung CCRD vẫn là một chính sách đúng đắn, để lại tác động tốt lâu dài đến nền kinh tế. Ở Nhật, Hàn, Đài, (và cả Triều Tiên), CCRD chỉ bao gồm lấy đất của địa chủ chia cho đa số dân nghèo. Không có đấu tố. Thế nên sau này chính quyền Mỹ cũng ủng hộ và tài trợ. Ở Philippines, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, CCRD không triệt để cho nên kinh tế không phát triển bằng Đông Bắc Á. Không những vậy, chính trị bất ổn vì nông dân không có ruộng đất nên dễ nổi loạn.

 

Xung đột Nga-Ukraina: cẩn thận với luận điệu nhà nước có chủ quyền, thành viên Liên Hợp Quốc

(Từ khoảng 6/2026, tôi đã thay đổi nhiều quan điểm chính trị khá nhiều. Thế nên các quan điểm trình bày trong các bài viết blog này không nhất thiết phản ánh những quan điểm mới nhất của tôi. Tôi giữ lại nguyên văn bài viết dưới đây như một tư liệu lịch sử.)

===============

Để đánh giá các xung đột quốc tế, phải dựa trên rất nhiều căn cứ: ngoại giao, an ninh quốc phòng, lịch sử, dân tộc, tôn giáo... Không thể chỉ nói rằng Ukraina là nhà nước có chủ quyền, thành viên LHQ để khẳng định Nga xâm lược.

 

1. Nếu chỉ căn cứ vào luận điệu nhà nước có chủ quyền, thành viên Liên Hợp Quốc thì hãy tự hỏi VN có quyền khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa (Trung Quốc chiếm năm 1974), đảo Ba Bình (Đài Loan chiếm năm 1956), 5 đảo trong quần đảo Trường Sa (Philippines chiếm trong giai đoạn 1971-1973) hay không?? Bởi vì năm 1977 VN mới là thành viên LHQ. Chế độ VNCH cũng không phải là thành viên LHQ. Trong khi đó, ở thời điểm chiếm các đảo đó, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines đều là thành viên LHQ. VN khẳng định chủ quyền ở các nơi đó là căn cứ vào các chứng cứ lịch sử.

 

2. VN đem quân sang lật đổ chính quyền Pol Pot cũng bị bao nhiêu nước phản đối. Phương tây và cả Trung Quốc cho rằng VN chỉ có thể đánh đuổi quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ và tố cáo tội ác diệt chủng của Pol Pot lên Liên Hợp Quốc. Nhưng nếu không lật đổ chế độ Pol Pot, tạo điều kiện cho đảng của Hun Sen lên nắm quyền thì làm sao biên giới bình yên được gần 40 năm nay.

 

Nghĩ rằng có thể tố cáo tội ác của Pol Pot với LHQ thì thật khôi hài. Suốt giai đoạn 1975-1978, đã có rất nhiều người Campuchia chạy ra nước ngoài tố cáo thảm hoạ diệt chủng của Pol Pot. CIA biết thừa tình cảnh ở Campuchia thế nào. Nhưng chỉ có 1 thượng nghị sỹ duy nhất yêu cầu chính quyền Mỹ tố cáo tội ác của Pol Pot và đem quân can thiệp. Chính quyền Cater làm ngơ. Cả Mỹ, Trung Quốc, Anh, đều bảo vệ ghế của Khmer Đỏ ở Liên Hợp Quốc đến tận 1993. Không những thế Mỹ, Anh đều tài trợ cho Pol Pot để chúng tiếp tục tồn tại và quấy phá Campuchia và VN.

 

3. Không phải phi lý nhiều người vẫn gọi Ukraina là nhà nước hư cấu. Putin thì khẳng định nước Nga đã sinh ra Ukraina. Tháng 3/1991, nhân dân Liên Xô trưng cầu dân ý và 71% không đồng ý giải tán Liên Xô. Gorbachov là tổng thống Liên Xô cũng không đồng ý. Nhưng tháng 12/1991, Yeltsin khi ấy là tổng thống Nga ngu dốt đã lén lút ký thoả thuận giải tán Liên Xô với lãnh đạo Ukraina, Belarus. Gorbachov thế lực yếu hơn không làm gì được.

 

 

Biên bản ghi nhớ Budapest không có giá trị pháp lý

Năm 1994, Ukraina, Belarus, Kazakhstan đã ký Biên bản ghi nhớ (BBGN) Budapest với Nga, Mỹ, Anh, đồng ý từ bỏ vũ khí hạt nhân để đổi lấy hỗ trợ tài chính và sự bảo vệ của ba cường quốc đó. Đến năm 2001, ba nước này không còn sở hữu vũ khí hạt nhân. Gần đây nhiều người lôi biên bản này ra để lên án Nga và Mỹ đã không tuân thủ các cam kết này. Họ còn nuối tiếc giá như Ukraina không ký. Điều đó có đúng không?


A. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Tính đến khi Liên Xô tan rã, 12/1991, ở Liên Xô chỉ có Nga, Ukraina, Belarus, Kazakhstan được chính quyền phân bổ giữ vũ khí hạt nhân. Để hiểu tại sao Ukraina, Belarus, Kazakhstan lại đồng ý từ bỏ vũ khí hạt nhân, cần điểm lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Liên quan đến BBGN 1994, đã có nhiều động thái [1].

+ Tuyên bố Chủ quyền năm 1990:
Trong nỗ lực giành độc lập cho Ukraina, phong trào đấu tranh giành độc lập cho Ukraina đã ủng hộ nỗ lực gia nhập Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân (NPT). Trong Tuyên bố Chủ quyền ngày 16/7/1990, quốc hội (dự kiến) của nước CHXHCN Ukraina cam kết ba nguyên tắc phi hạt nhân: “không chấp nhận, sản xuất hoặc mua vũ khí hạt nhân”.

+ Hiệp định Minsk năm 1991 về Lực lượng Chiến lược:
Với sự tan rã của Liên Xô, Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (Ukraina, Belarus, Kazakhstan và nhiều nước khác) đã ký Hiệp định Minsk vào ngày 30/12/1991, đồng ý rằng chính phủ Nga sẽ được giao phụ trách tất cả các loại vũ khí hạt nhân. Tổng thống Nga giữ cặp hạt nhân. Tuy nhiên, chừng nào các loại vũ khí này vẫn còn ở Belarus, Ukraine và Kazakhstan, thì chính phủ của các quốc gia đó sẽ có quyền phủ quyết việc sử dụng chúng. Ngày mục tiêu để loại bỏ các loại vũ khí này được ấn định là cuối năm 1994.

+ Nghị định thư Lisbon 1992:
Ngày 23/5/1992, Nga, Belarus, Ukraina, Kazakhstan và Mỹ đã ký nghị định thư Lisbon. Trong nghị định thư này, Belarus, Kazakhstan và Ukraina cam kết chấp nhận NPT với tư cách là các quốc gia không có vũ khí hạt nhân “trong thời gian càng sớm càng tốt”.

+ Các hiệp ước START:
Hiệp ước START là Hiệp ước Cắt giảm và Hạn chế Vũ khí Tấn công Chiến lược giữa Nga và Mỹ, trong đó mục tiêu quan trọng nhất là cắt giảm số đầu đạn hạt nhân của hai nước này. Tính đến nay đã có ba hiệp ước START 1, 2 và 3. Chính nhờ các hiệp ước START này mà số đầu đạn hạt nhân của hai nước đã cắt giảm đáng kể. Năm 1990, Liên Xô có 10200 đầu đạn hạt nhân, Mỹ có 10500. Tuy nhiên đến trước năm 2018, số đầu đạn hạt nhân của 2 nước nà chỉ còn lần lượt là 1444 và 1350.

START 1 được ký năm 1991, có hiệu lực ngày 5/12/1994. Hiệp ước START 1 đã dẫn đến BBGN 1994 bởi cả Nga và Mỹ đều không muốn các nước khác sở hữu vũ khí hạt nhân.

+ Biên bản Ghi nhớ Budapest 1994:
Biên bản này cam kết giữa Ukraina, Mỹ, Nga, Anh bao gồm các nguyên tắc đảm bảo an ninh, chống lại mối đe doạ hoặc sử dụng vũ lực chống lại lãnh thổ và nền độc lập của Ukraina. Hai biên bản tương tự cũng được ký với Belarus và Kazakhstan. Dưới áp lực của Mỹ, Anh, Nga, Ukraina, Belarus và Kazakhstan đã phải ký biên bản này để đổi lấy hỗ trợ tài chính và sự bảo vệ của Mỹ, Anh, Nga. BBGN 1994 chỉ là một bước trong Hiệp ước START 1 giữa Nga và Mỹ.

+ Tuyên Bố Chung 2009 giữa Nga và Mỹ:
Nga và Mỹ ban hành tuyên bố chung năm 2009 xác nhận rằng đảm bảo an ninh của Biên bàn Ghi nhớ Budapest vẫn còn có giá trị sau khi hiệp định START I hết hạn năm 2009.

B. BIÊN BẢN GHI NHỚ BUDAPEST 1994 KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ

Nhiều luật gia Việt cuồng nhiệt ủng hộ Ukraina biết thừa rằng các Biên bản ghi nhớ (Memorandum) có tính pháp lý rất yếu. Ví dụ, tỷ phú Nguyễn Phương Thảo cũng từng ký BBGN với đại học Oxford về việc tài trợ 150 triệu $ cho trường Linacre để đổi tên trường này thành tên bà Thảo. Sau đó bà Thảo ngừng việc tài trợ này nhưng cũng chả sao cả. Trường Oxford không phàn nàn, kiện cáo gì.

Trên Internet có rất nhiều bài giải thích vì sao BBGN 1994 không có tính ràng buộc pháp lý. Bài viết của giáo sư luật Robert Lawless của Học viện Westpoint[2] giải thích BBGN 1994 chỉ là “một lời hứa về mặt chính trị” nhưng không phải là một “thoả thuận quốc tế”, có tính ràng buộc pháp lý. BBGN này không buộc các bên tham gia ký kết phải có bất kỳ nghĩa vụ nào. Các chuyên viên bộ ngoại giao Mỹ đã cố tình sử dụng từ “assurances” thay vì “guarantees”, mặc dù phía Ukraina yêu cầu sử dụng từ guarantees, bởi từ “guarantees” mang nghĩa ràng buộc pháp lý.

BBGN này cũng không tạo ra bất kỳ đạo luật nào nào mới, mà chỉ nhấn mạnh việc tham chiếu đến các điều luật đã có trước đó. Biên bản này cũng không sử dụng từ “agree” hoặc “agreement” mà sử dụng từ “reaffirmations”. Điều này cho thấy Nga và Mỹ không muốn bị ràng buộc về pháp lý theo luật pháp quốc tế. Giáo sư Lawless cũng chỉ ra rằng BBGN này rất đáng ngờ về tính hợp pháp bởi không được soạn thảo dưới dạng một thoả thuận giữa các quốc quốc gia ký kết.

Cần lưu ý rằng năm 2013, Belarus cũng đã tham chiếu Điều 3 của BBGN 1994 để lên án các lệnh trừng phạt của Mỹ. Trong thư phản hồi Belarus, Chính phủ Mỹ cũng đã phúc đáp rằng BBGN 1994 “không có ràng buộc pháp lý”, mặc dù họ cũng coi trọng biên bản này [3]. Ngoài ra, nếu BBGN 1994 có giá trị pháp lý thì không cần Tuyên bố Chung Nga Mỹ 2009. Tuyên bố chung này thực tế là việc nhắc lại lời cam kết năm 1994.

C. LIỆU UKRAINA CÓ THỂ TỪ CHỐI KÝ BBGN BUDAPEST 1994?

Ukraina, Belarus, Kazakhstan phải ký BBGN 1994 dưới áp lực của Mỹ, Anh, Nga. Trên thực tế các quốc gia này không muốn ký cũng không được. Đầu năm 1994, Bill Clinton đã tài trợ cho Ukraina 400 triệu $ để đổi lấy cam kết sẽ ký BBGN này. Sau đó, nếu Ukraina không chịu ký thì sẽ phải chịu những sự cấm vận, trong bối cảnh nước này rất nghèo sau khi trở thành một quốc gia độc lập. Các tài liệu lịch sử cho thấy chính Ukraina đã có nhiều cam kết, thoả thuận về từ bỏ vũ khí hạt nhân trước đó cho nên mới được Nga, Mỹ tạo điều kiện để Ukraina trở thành một quốc gia độc lập.

Hiện nay, rất nhiều quốc gia muốn phát triển vũ khí hạt nhân nhưng các ông lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc không chấp nhận thì cũng đành chịu. Chỉ có Triều Tiên, dưới cái ô bảo trợ của Trung Quốc, vẫn cương quyết phát triển vũ khí hạt nhân dù bị Mỹ cấm vận nặng nề.

Nói vắn tắt, BBGN Budapest 1994 chỉ là một lời hứa chính trị nhưng không có tính ràng buộc pháp lý. Các bên tham gia ký kết không có bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào đối với biên bản đó. Hơn nữa, Ukraina làm tổn hại đến lợi ích của Nga, Mỹ theo quan điểm của các lãnh đạo đương thời của hai nước này cho nên họ khước từ thực hiện lời hữa. Thời điểm 1994, Ukraina, Belarus, Kazakhstan bắt buộc phải từ bỏ vũ khí hạt nhân bởi đó là ý nguyện của các ông lớn Mỹ, Anh, Nga. Trước đó, trong nỗ lực giành độc lập, Ukraina đã có nhiều thoả thuận cam kết từ bỏ vũ khí hạt nhân để được Nga và Mỹ tạo điều kiện giành độc lập. Vậy là việc từ bỏ vũ khí hạt nhân và giảnh độc lập là có đi có lại.

[1]https://www.armscontrol.org/factsheets/ukraine-nuclear-weapons-and-security-assurances-glance
[2]https://lieber.westpoint.edu/budapest-memorandums-history-role-conflict/
[3]https://web.archive.org/web/20140419030507/http://minsk.usembassy.gov/budapest_memorandum.html

Ủng hộ Ukraina, vậy có ủng hộ Campuchia quấy rối, phá hoại VN

Nhiều người ngây thơ tin rằng Ukraina nhỏ hơn, yếu hơn cho nên bị bắt nạt. Họ đọc quá ít về chính trị quốc tế cho nên tầm nhìn bị hạn chế.

 

Trước tiên phải bỏ ngay ý nghĩ, nhỏ hơn, yếu hơn luôn luôn đồng nghĩa với bị bắt nạt. Nhiều nước nhỏ hơn đã từng quấy rối, phá phách, thậm chí xâm lược nước lớn. Thực tế nhãn tiền là trường hợp Campuchia.

Dân số Campuchia chỉ bằng 17% VN, diện tích bằng nửa VN, gdp/capita cũng nhỏ hơn. Rõ ràng là Campuchia nhỏ hơn, yếu hơn VN. Thế nhưng quân Pol Pot đã từng tấn công VN. Ngay từ 1972, quân Khmer đỏ đã tấn công giết hại nhiều bộ đội VN. Sau khi lên nắm chính quyền năm 1975, Pol Pot liên tục cho quân xâm nhập lãnh thổ VN, đốt nhà, giết hại, bắt cóc người Việt. Pol Pot tuyên truyền VN cướp đất của Campuchia và kêu gọi nhân dân Campuchia gia nhập Khmer Đỏ để tiến đánh VN, lấy lại đất đai. (Mặc dù đất đai này đã thuộc về VN từ mấy thế kỷ trước). Chính vì vậy, dân Campuchia hưởng ứng rất đông. Cuối 1978, Khmer Đỏ tập hợp được khoảng 90,000-200,000 người, tổng tấn công VN. Quân đội VN buộc phải phản công, lật đổ chính quyền Pol Pot, lập nhà nước Campuchia bao gồm các lãnh đạo thân thiện với VN như Hun Sen, Heng Samrin.

 

I. CHỈ KHI NƯỚC NHỎ TẤN CÔNG XÂM LƯỢC NƯỚC LỚN THÌ MỚI CẦN LÊN ÁN??

Một số người sẽ lý sự rằng chỉ khi nước nhỏ tấn công xâm lược nước lớn thì mới cần phải lên án. Nếu không phải như vậy, họ làm gì ở nước họ là quyền của họ. Đấy là những suy nghĩ nông cạn.

Hiện nay, chính phủ VN đang hết sức lo lắng về tình hình Campuchia. Gần 40 năm nay biên giới Việt-Cam khá bình yên là nhờ Hunsen nắm chính quyền. Hun Sen mang ơn VN vì chính ông ấy chạy sang VN cầu cứu bộ đội VN sang giúp dân Campuchia thoát nạn diệt chủng. Nhưng hiện giờ, Hun Sen đã 70 tuổi, lui về làm thái thượng hoàng. Con trai Hun Manet lên nắm quyền, còn khá non. Vừa rồi tình hình Campuchia hỗn loạn. Giới đối lập Campuchia ở hải ngoại đồng loại kích động dân trong nước nổi dậy lật đổ chế độ của Hun Sen. May là chính quyền dập tắt được. Cách đây vài tuần, Hun Sen lại bị mưu sát bằng máy bay không người lái, nhưng thoát chết. Vài năm nữa Hun Sen quá già, bệnh tật. Thế lực Hun Sen suy yếu thì không biết Campuchia sẽ đi về đâu.

 

Điều chắc chắn, tất cả các chính trị gia khác hiện nay đều không có thiện cảm với VN như Hun Sen. Mỹ, Trung Quốc có thể bơm tiền để đưa các nhân vật như Sam Rainsy lên nắm chính quyền. Sam Rainsy là nhà sáng lập và chủ tịch đảng Sam Rainsy, một trong ba đảng lớn nhất Campuchia. Rainsy rất ghét VN vì chuyện đất đai trong lịch sử. Ông ta chủ trương kích động dân Campuchia đòi lại đất đai hiện đã thuộc về VN từ mấy thế kỷ trước. Mặc dù hiện nay đảng của Sam Rainsy chưa nắm chính quyền, nhưng ông ta đã từng đến vùng biên giới VN-Cam, nhổ các cột mốc biên giới đồng thời phát tán các bản đồ lãnh thổ Campuchia lấn sang đất VN. Ngay cả không chủ trương xâm lược VN như Pol Pot trước đây, nếu Rainsy lên nắm chính quyền, ông ta vẫn có thể gây nhiều tổn hại cho VN:

 

+ Tuyên truyền thù ghét người Việt, kích động người Campuchia đấu tranh đòi lại đất đai hiện đang thuộc về VN. (Nhiều nhóm đối lập Campuchia đang đòi khẳng định chủ quyền ở đảo Phú Quốc và các tỉnh miền nam VN).

+ Phá hoại việc hợp tác kinh doanh, bảo vệ an ninh, quốc phòng với VN. (Nhiều nhóm chính trị đối lập Campuchia đang làm như vậy).

+ Đàn áp, bức hại người Việt sinh sống ở Campuchia và hoặc các doanh nhân Việt thường xuyên qua lại biên giới để buôn bán. (Nhiều nhóm chính trị đối lập Campuchia đang làm như vậy).

+ Viết lại sách giáo khoa lịch sử. Giáo dục, truyền thông sẽ phủ nhận công lao của bộ đội VN chấm dứt nạn diệt chủng ở Campuchia. Nhiều nhóm chính trị đối lập Campuchia còn tuyên truyền chính VN gây ra nạn diệt chủng.

+ Ngăn cản, gây nhiễm độc nguồn nước sông Mekong ở đoạn hạ nguồn chảy vào VN.

+ Câu kết với phương tây, cho phép phương tây đặt hệ thống tên lửa chĩa vào VN, uy hiếp quốc phòng VN.

+ Bật đèn xanh cho cộng đồng người Việt và người Cam chống phá VN thành lập chiến khu ở vùng biên giới Việt-Cam. Hiện giờ, những hội nhóm như vậy không thể tá túc ở Lào và Campuchia bởi cảnh sát hai nước này hợp tác với công an VN. Các hội nhóm đối lập sau khi gây rối ở VN phải chạy trốn sang tận Thái Lan. Nhưng nếu một chính quyền Campuchia không thân thiện với VN lên thay gia đình Hun Sen thì họ có thể làm ngơ cho các thế lực chống đối VN tập hợp vũ khí và lực lượng vũ ở ngay sát biên giới, thỉnh thoảng lại sang VN quậy phá, giống như Pol Pot trước đây.

Hãy nhớ về trường hợp Khủng hoảng hạt nhân Cuba năm 1962. Sau khi Mỹ đem tên lửa hạt nhân có khả năng bắn tới Liên Xô đặt ở Thổ Nhĩ Kỳ, Liên Xô trả đũa bằng cách đem tên lửa hạt nhân đặt ở Cuba. Đây là những hành vi vô cùng nguy hiểm, có thể đưa thế giới đến thảm hoạ diệt vong, nếu như lãnh đạo một trong hai quốc gia mất trí, mặc dù cả hai chưa động gì đến lãnh thổ nước kia.

 

II. UKRAINA HUNG HĂNG QUẤY RỐI GIỐNG HỆT CAMPUCHIA

Trước chiến tranh, Ukraina có dân số bằng 30% dân số Nga, diện tích nhỏ hơn Nga khá nhiều. So với Nga, Ukraina là nước nhỏ hơn, yếu hơn. Tuy nhiên, Ukraina là nước láng giềng lớn nhất ở phía tây của Nga cho nên khi họ quấy rối, phá phách Nga, mức độ phá hoại lớn hơn hẳn các nước kia.

 

Ukraina nghe phương tây xúi bẩy gây ra vụ Maidan, lật đổ chính quyền thân Nga, tuyên truyền các tư tưởng bài Nga, xoá bỏ văn hoá Nga, cho phép phát xít hoạt động ở vùng biên giới Nga. Cần nhớ rằng 17% người Ukraina là gốc Nga. 40-50% người Ukraina nói tiếng Nga. Thế nhưng chính quyền Ukraina có nhiều biểu hiện cấm đoán tiếng Nga. Không những vậy, Ukraina còn manh nha muốn vào NATO, một tổ chức sinh ra để chống Liên Xô và giờ là chống Nga. Điều rõ ràng là những hành vi của Ukraina làm tổn hại đến lợi ích của nước Nga, huỷ hoại quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Không những vậy còn uy hiếp an ninh quốc phòng của Nga.

 

Sẽ có những người ngây thơ lý sự rằng, dù sao đi nữa Nga không được phép tấn công Ukraina chừng nào Ukraina chưa tấn công Nga. Họ không hiểu gì mấy về quốc phòng. Bảo vệ quốc phòng có nghĩa là phải ngăn chặn mọi nguy cơ từ sớm, từ xa, từ khi nguy cơ còn chưa rõ ràng. Việc trừng phạt là bình thường. Các cường quốc có năng lực quốc phòng mạnh thường trừng phạt nặng nề hơn các nước khác.

 

Cũng cần phải nhắc lại, Ukraina ra đời trong một tình huống phi lý. Tháng 3/1991, 71% người dân Liên Xô trưng cầu dân ý không đồng ý giải tán Liên Xô. Tuy nhiên, Yeltsin là tổng thống Nga vẫn lét lút ký hiệp ước giải tán Liên Xô với lãnh đạo Ukraina và Belarus. Gorbachov lúc bấy giờ là tổng thống Liên Xô cũng không đồng ý giải tán Liên Xô nhưng thế lực quá yếu cho nên không ngăn được Yeltsin. Việc giải tán Liên Xô rõ ràng là không phù hợp với ý nguyện của nhân dân Liên Xô, mà đại đa số là người Nga. Không phải phi lý nhiều người gọi Ukraina là nhà nước hư cấu, do phương tây kích động ly khai khỏi Liên Xô. Liên Xô bất ngờ bị giải tán do lãnh đạo ngu, khiến Nga mất bao nhiêu đất đai mà lẽ ra cần phải đàm phán lâu dài. 25 triệu người gốc Nga bỗng dưng lại trở thành người nước khác. 17% dân Ukraina có gốc Nga đó tập trung ở Crime và 4 tỉnh mà Liên Xô bị sáp nhập. Đó là mối hận mà người Nga không bao giờ quên.

 

III. LIỆU CÓ NÊN TIẾP TỤC BÊNH UKRAINA?

Nga là quốc gia đất quá rộng, người quá thưa, tài nguyên khoáng sản dồi dào. Họ không có nhu cầu xâm lược nước khác. Chỉ khi bị Ukraina chơi xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc phòng và các quan hệ kinh tế, văn hoá, họ mới buộc phải trừng phạt để bảo vệ quốc phòng, bảo vệ các mối quan hệ kinh tế, và bảo vệ 17% người gốc Nga sống ở Ukraina.

 

Đến giờ phút này, những người cho rằng Ukraina yếu ớt bị bắt nạt, nên tự hỏi:

+ Nếu trong thời gian tới, một chính quyền Campuchia mới thành lập không ưa VN bị phương tây kích động, quấy rối, phá hoại quan hệ bang giao với VN thì có nên ủng hộ Campuchia không?

+ Nếu tương lai, giả dụ lợi dụng lúc chính trị VN bất ổn, một nguyên thủ nào đó của VN đồng ý cho người thượng ở tách vùng Tây Nguyên ra thành lập nhà nước Đề Ga riêng, liệu người Việt có chấp nhận mất Tây Nguyên vĩnh viễn?? Không chỉ nhà nước Đề Ga, một khi chính quyền VN cư xử mềm yếu thì phương tây và Trung Quốc có thể kích động người dân khắp nơi trong nước, đặc biệt là người dân tộc thiểu số, người theo đạo, đấu tranh đòi ly khai các vùng lãnh thổ khỏi VN.

 

Về vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ

 

Dưới đây là một trích đoạn trong cuốn “Sự trỗi dậy của một cường quốc: cái nhìn từ bên trong” của Arthur Kroeber:

================

[Việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đã có vai trò lớn đến đâu trong phát triển công nghiệp của Trung Quốc?]

(Arthur Kroeber)

"Quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề gây tranh cãi giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại lớn của họ - đặc biệt là Hoa Kỳ - kể từ đầu những năm 1990. Nhiều công ty từ các nước phát triển từ lâu đã phàn nàn rằng bằng sáng chế và nhãn hiệu của họ không an toàn ở Trung Quốc, vì các công ty bản địa đã sao chép sản phẩm của họ một cách trắng trợn, và chính phủ hầu như không làm gì để trừng trị những kẻ vi phạm. Các cuộc chiến cấp cao, liên tục xoay quanh các vụ việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đã góp phần dựng lên một câu chuyện phổ biến rằng Trung Quốc chỉ thành công về mặt kinh tế là nhờ “những thực thi không công bằng”.(19)

 

Dung túng cho hành vi sao chép và đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ là một chiến thuật thường được các quốc gia lạc hậu về công nghệ sử dụng để đuổi kịp ranh giới công nghệ. Sự phát triển của ngành công nghiệp đồ sứ ở châu Âu vào đầu thế kỷ XVIII phụ thuộc đáng kể vào các báo cáo của các nhà truyền giáo dòng Tên về kỹ thuật gốm sứ Trung Hoa, mà nhà nước Trung Quốc xem là bí mật thương mại. Việc đánh cắp cây chè mà Trung Quốc cấm xuất khẩu đã cho phép người Anh thiết lập một nền công nghiệp chè ở Ấn Độ. Vào đầu thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã đối xử rất thản nhiên với tài sản trí tuệ của châu Âu, và tổ hợp dệt may lớn đầu tiên ở Lowell, Massachusetts, được thành lập trên cơ sở gián điệp công nghiệp.(20) Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan phần nào đã dựa vào kỹ thuật đảo ngược và sao chép các công nghệ của phương Tây, vi phạm các quy tắc bản quyền của phương Tây. Trước khi Trung Quốc trở thành tâm điểm chính, chính phủ Hoa Kỳ cũng từng tham gia vào các cuộc đụng độ về quyền sở hữu trí tuệ liên tục với các công ty Nhật Bản và Đài Loan. Điều đáng nói ở đây không phải là có thể biện hộ về mặt đạo đức cho những hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, mà đơn giản là những hành vi đó là bình thường cho đến lúc một quốc gia có đủ quyền sở hữu trí tuệ của chính mình để quyết định rằng việc bảo hộ hay đánh cắp tạo ra nhiều lợi ích hơn. Sự thay đổi này xảy ra ở Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ XIX và ở các nền kinh tế Đông Á là vào những năm 1980 và 1990. Trung Quốc cũng đã bắt đầu thay đổi với việc thành lập các tòa án chuyên trách về quyền sở hữu trí tuệ và sử dụng án phạt hình sự đối với một số hành vi vi phạm.

 

Trung Quốc được xem là có mức vi phạm tồi tệ hơn so với nhiều nước đi trước, bởi vì các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc có quy mô lớn bất thường, trong khi hệ thống pháp lý lại yếu một cách bất thường và phải chịu sự kiểm soát từ chính trị, điều này gây khó khăn cho bên bị đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ. Mặt khác, rốt cuộc rất khó nhận biết các doanh nghiệp phương Tây thường đã phải chịu bao nhiêu tác hại. Microsoft và các công ty phần mềm khác đã phàn nàn trong nhiều năm về tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm ở mức cao của Trung Quốc; nhưng các công ty phần mềm của Mỹ vẫn chiếm ưu thế trong các thị trường toàn cầu và không có đối thủ cạnh tranh nào xuất hiện ở Trung Quốc. Trong nhiều thập kỷ, các công ty sản phẩm tiêu dùng của phương Tây đã phải chiến đấu một cuộc chiến cầm chắc thất bại chống lại các bản nhái thương hiệu của Trung Quốc, nhưng hầu hết các công ty này đều được hưởng lợi và phát triển kinh doanh ở Trung Quốc. Phần lớn các công ty đều tính đến môi trường kiểu “miền Tây hoang dã” về quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc trong kế hoạch kinh doanh, và đã tìm ra cách phát triển thịnh vượng.

 

Một mánh lới khác đó là Trung Quốc đã cố gắng dàn xếp việc đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ dưới lốt “chuyển giao công nghệ”, ví dụ như khi chính sách “Đổi mới sáng tạo” buộc một số công ty nước ngoài phải giao các công nghệ then chốt để đổi lấy quyền thâm nhập thị trường Trung Quốc. Mặc dù người ta có thể không chấp nhận các chiến thuật như vậy, nhưng cách nhìn nhận chính xác hơn chính là xem chúng như các cuộc đàm phán kinh doanh hơn là những vở kịch luân lý. Trung Quốc có thị trường rộng lớn nhưng các công ty của nó lại lạc hậu về công nghệ. Các công ty nước ngoài thì có công nghệ và cho rằng họ có thể kiếm được lợi nhuận khổng lồ bằng cách bán các công nghệ đó ở Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đang sử dụng quyền thâm nhập thị trường như một món hàng mặc cả để chiếm được một tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn kiếm được từ phát triển công nghệ cho các công ty Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay, các công ty nước ngoài đã thành công trong việc chống lại những nỗ lực này."

 

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP AI, BÁN DẪN: CẦN NGHIÊM TÚC XÂY DỰNG, GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC ĐỀ ÁN.

 VN đã bắt đầu sản xuất bán dẫn từ 1979. Nhà máy Z181 của bộ quốc phòng đã thực hiện rất nhiều đơn đặt hàng sản xuất linh kiện, phụ kiện bán dẫn cho khối Đông Âu giai đoạn 1979-1989. Sau khi Đông Âu sụp đổ, nhà máy này đổi tên thành công ty điện tử Sao Mai và chuyển sang sản xuất hàng gia dụng để phục vụ thị trường nội địa.

 

Từ khi Đổi mới đến nay, VN đã có nhiều chiến lược quốc gia rất hoàng tránh: chiến lược phát triển công nghệ thông tin cuối 1980s, chiến lược phát triển thương mại điện tử 1995, chính phủ điện tử đầu 2000s, chiến lược quốc gia khởi nghiệp 2017, và gần đây là các chiến lược phát triển công nghệ cao, kinh tế số.

Năm 2021, chính phủ đã ban hành “Chiến lược phát triển trí tuệ nhân tạo đến 2030”. Ngày 21/9 vừa qua, chính phủ lại ban hành “Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn đến năm 2030 tầm nhìn 2050”. Sau khi đã có chiến lược thì phải xây dựng các Đề án Tổng thể để thực thi các chiến lược đó. Tiếp đó là các đề án con để thực thi các mục tiêu của Đề án Tổng thể. Các đề án phát triển ngành thường có hai phần: (i) Phần công nghệ do các chuyên gia công nghệ thực hiện; (ii) Phần đánh giá tổng quan (vốn đầu tư, nhu cầu thị trường, mức độ cạnh tranh, môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng, nguồn cung năng lượng, lao động, trình độ công nghệ…), dự báo và đề xuất chính sách do các chuyên gia kinh tế thực hiện.

 

Mấy năm nay, truyền thông rất ồn ào về phát triển công nghiệp AI, bán dẫn. Thế nhưng hầu như chỉ có các chuyên gia công nghệ hoặc các nhà báo giới thiệu các kinh nghiệm của nước ngoài. Xưa nay ở nước ta, các chiến lược, đề án tổng thể, đề án con vẫn thường đề ra các chỉ tiêu rất cảm tính, ít dựa trên cơ sở khoa học. Những thảo luận về chiến lược, xây dựng Đề án Tổng thể và các đề án con rất thiếu vắng. Việc giám sát, đánh giá hiệu quả thực thi các đề án cũng khá sơ sài. Thế nên đã có rất nhiều chiến dịch rất rầm rộ một vài năm rồi dần dần tàn lụi. Không ai biết nguyên nhân vì đâu kết quả không được như mong đợi. Đã chi tiêu bao nhiêu tiền thuế của dân như thế nào, không ai biết.

 

Do đó, rất cần những nghiên cứu, thảo luận để xây dựng bức tranh tổng thể và các công việc cần làm.

Lấy ví dụ, theo “Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn”, giai đoạn 2024-2030 cần phải xây dựng “01 nhà máy chế tạo chip bán dẫn quy mô nhỏ và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử sản phẩm bán dẫn”. Rất cần những nghiên cứu, thảo luận về mặt kinh tế và chính sách xem mục tiêu này có khả thi hay không. (Các nhà máy đó đặt ở đâu? Nhà nước, tư nhân, FDI đầu tư? Những khó khăn pháp lý, điều kiện kinh doanh? Nguồn nhân lực có đủ đáp ứng cả về số lượng và chất lượng? v.v…).

 

Hoặc một tiêu chí khác trong chiến lược: “Quy mô nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đạt trên 50.000 kỹ sư, cử nhân có cơ cấu, số lượng phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển”. Cần nghiên cứu, giám sát con số này đáp ứng được bao nhiêu % nhu cầu thực tế? Dự báo tỷ lệ chảy máu chất xám là bao nhiêu?

Trong bài báo dưới đây, giáo sư Tú của Đại học Quốc gia cho biết, trước đây chỉ khoảng 10-15% sinh viên tốt nghiệp ngành điện tử viễn thông chọn nghề thiết kế vi mạch bởi vì đây là ngành khó và thu nhập chưa đủ hấp dẫn. Hiện nay, nhu cầu trên thế giới rất lớn, mức lương cạnh tranh sẽ cao hơn, thì tỷ lệ này có lẽ cũng chỉ tăng lên 35-50%. Đấy là chưa kể chảy máu chất xám. Mấy thập kỷ nay, nền kinh tế VN chủ yếu dựa trên công nghệ thấp (sản xuất nông nghiệp, chế biến thuỷ sản, du lịch, gia công đồ gỗ, gia công hàng điện tử, máy móc đơn giản). Đó là những ngành thâm dụng lao động phổ thông. Chủ yếu chỉ cần những người tốt nghiệp cấp II, III. Đấy là lực lượng lao động dễ kiếm và không lo chảy máu chất xám. Tuy nhiên, các ngành như Bán dẫn là công nghệ cao thì nguy cơ chảy máu chất xám cũng rất lớn. Trên toàn thế giới hiện nay rất khát nhân lực trình độ kỹ sư, cử nhân trở lên. Họ sẵn sàng trả lương cao gấp 3-5 lần để lôi kéo kỹ sư, chuyên gia khá, giỏi của ta sang nước họ làm việc.

 

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

1. Chính phủ phải thành lập nhóm nghiên cứu, xây dựng đề án tổng thể và các đề án con. Cần phải có những nghiên cứu, thảo luận nghiêm túc. Nhóm nghiên cứu phải tổ chức hội thảo thường xuyên và có các báo cáo giám sát theo quý, báo cáo đánh giá thường niên. Cần lựa chọn các nhà nghiên cứu giỏi cả định tính, định lượng, có nhiều kinh nghiệm thực hiện các đề án quốc tế tham gia các đề án này. Trước nay có nhiều lời phàn nàn là những người tham gia xây dựng các chiến lược, đề án quan trọng chỉ có nhiều kinh nghiệm nhưng nhiều khi không thật sự giỏi. Tôi nghĩ rằng việc xây dựng, giám sát, đánh giá các đề án này không phải là tối mật cho nên chính phủ nên mạnh dạn lựa chọn các nhà nghiên cứu giỏi từ các viện, trường. Miễn là họ có có tính cách kín đáo, cam kết giữ những bí mật công việc.

 

2. Mới đây có nhóm đề xuất nhà nước đầu tư 7 tỷ USD để sản xuất thử và làm chủ một số công nghệ bán dẫn. Đây là đề án rất lớn và cần nghiên cứu tiền khả thi, theo dõi, giám sát, đánh giá thường xuyên.

 

3. Chính phủ cần khuyến khích đặt hàng các trường đại học hướng dẫn luận văn thạc sĩ, các đề tài cập bộ, cấp trường liên quan đến theo dõi, giám sát, đánh giá nội dung của các chiến lược và các đề án phát triển ngành. Các luận văn về chiến lược marketing, thu hút vốn và công nghệ, nhân tài cho ngành AI, bán dẫn (ngành kinh tế, chính sách, quản lý công, quản trị kinh doanh, luật).

 

4. Hiện nay các trường đã bắt đầu tăng cường đầu tư đào tạo nhân lực cho ngành AI, Bán dẫn. Các trường phải có báo cáo thường niên về việc đào tạo này. Hàng năm các trường cần điều tra ẩn danh các sinh viên đã tốt nghiệp các ngành liên quan để biết sau 2-5 năm, bao nhiêu sinh viên còn theo nghề, còn ở lại trong nước, những thuận lợi, khó khăn của họ.

 

PS: một số người sẽ thắc mắc tại sao ngành kinh tế lại giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng bức tranh tổng thể. Thực tế trên thế giới là ngành kinh tế ngày nay đào tạo hầu hết tiên sĩ chính sách công, quản lý công. Ví dụ vào trường Kennedy school of government của đại học Harvard là thấy giáo sư kinh tế hướng dẫn 85-90% luận án tiến sĩ chính sách công. Ở VN, hầu như tất cả các trường đại học đều có khoa quản trị kinh doanh/kinh tế. Không những thế còn có 3 trường riêng chuyên về kinh tế: đại học kinh tế quốc dân, đại học thương mại, đại học ngoại thương. Bởi vì ngành kinh tế phải tham gia cố vấn để phát triển tất cả các ngành khác.

 

https://tuetech.edu.vn/hon-hai-thap-ki-lam-chip-cua-nguoi-viet-dt1079.html

 

Về chiến tranh biên giới với Campuchia

 Tôi hay đọc hồi ký của các nguyên thủ quốc gia. Những người ấy mới có tầm nhìn bao quát về đường lối, chiến lược quốc gia, có đầy đủ quyền truy cập mọi thông tin mật trao đổi giữa các nguyên thủ quốc gia, và tất cả các thông tin tình báo. Còn các dạng UVTW, bộ trưởng, tướng tá, và các loại quan chức khác ở dưới thường tầm nhìn hạn chế hạn chế hơn nhiều. Bởi vì họ đâu có được truy cập các thông tin tình báo, thông tin trao đổi mật giữa các nguyên thủ. Chưa kể họ quá bận rộn ngành của họ, trong khi để đánh giá một chủ trương, đường lối chính trị, đối ngoại của quốc gia thì cần kiến thức của nhiều ngành. Ngay cả UVBCT, không phải người nào cũng được truy cập đầy đủ thông tin.

Còn các dạng học giả lăng nhăng khác thì...thôi. Hồi 2022, đại sứ ASEAN Hoàng Anh Tuấn đã có bài than trời là Mỹ cắt giảm đầu tư đào tạo các nhà nghiên cứu chính trị cho nên gần đây rất hiếm học giả giỏi. Cũng đúng thôi. Muốn biết Bin Laden ở đâu thì tung tiền xây dựng mạng lưới tình báo ở Pakistan, Afganistan hoặc lân cận để tìm dấu vết ông ta. Hoặc muốn biết Tập hay Putin nghĩ gì thì đổ tiền mua chuộc quan chức, lãnh đạo ở Trung Quốc, Nga, đầu tư tiền vào các hệ thống vệ tinh do thám, các hệ thống nghe lén. Cách đây gần chục năm, châu Âu đã om xòm lên vì ngay cả thủ tướng Đức, Pháp cũng bị Mỹ nghe lén điện thoại. Họ có điên đâu mà đầu tư nhiều vào các ông học giả ngồi ở New York ăn tục, nói phét, đoán mò. Các học giả nói chung không được phép truy cập các thông tin mật, thông tin tình báo. Nghe họ phán các thuyết âm mưu về chính trị thế giới thì rất vui tai, nhưng chỉ nên tin vừa vừa thôi.

(Chưa nói đến các nhà báo. Một số nhà báo VN rất tệ. Họ phỏng vấn quan chức nhưng thậm chí không có băng ghi âm làm bằng chứng. Thấy các quan chức được phỏng vấn chết rồi thì họ tự ý bịa đặt, thêm mắm muối...như cái anh nhà báo gì mới đây bị bắt đi tù. Không ai xác minh được những điều anh ta viết).

Về chiến tranh Campuchia, ngoài các tài liệu của VN thì có thể đọc “Hồi ký của Sihanouk” và cuốn “Hun Sen - Nhân vật xuất chúng của Campuchia”. (Cuốn này chủ yếu là do Hun Sen trả lời, nhà báo tây ghi lại).

Theo hồi ký của Sihanouk và thông tin chính thức của nước ta thì phía VN đã rất cố gắng nhịn Polpot. VN đề nghị lập vùng phi quân sự. Mỗi bên lùi vào 10km cách biên giới làm vùng phi quân sự. Nhưng phía Polpot hung hăng không chịu. Tháng 12/1978 Polpot đem 19 sư đoàn, khoảng 90,000 quân tấn công VN, nhưng nhanh chóng bị đánh bại. Sau đó, VN bắt buộc phải ở lại truy quét và hỗ trợ chính phủ Campuchia đứng vững thêm 10 năm nữa.

Gần đây có một số nguồn tin nói rằng giai đoạn 1977-1078, VN đã có đàm phán với Mỹ về vấn đề Campuchia. Họ cho là lẽ ra VN có thể tránh được cuộc chiến đó, hoặc có thể rút quân sớm hơn. Thông tin này không biết ở đâu ra. Hay một số quan chức bị thất sủng tung tin linh tinh, giống như hồi họ tung tin về “Hội nghị Thành Đô”. Tôi nghĩ, chỉ khi nào phía VN hoặc phía Mỹ giải mật thông tin về vấn đề này thì mới đáng tin. Chưa có nguồn tin nào nói Mỹ đã giải mật thông tin về đàm phán đó. Còn đợi VN giải mật…thì sẽ còn phải đợi rất lâu.

PS: Chính trị quốc tế thì rất khác các ngành kiểu như kinh tế, y tế, môi trường. Bởi các ngành kinh tế, y tế, môi trường..., các học giả chủ yếu bàn bạc, cố vấn trên các dữ liệu công khai thôi. Họ không bàn những gì không có bằng chứng, dữ liệu. Nếu suy diễn thì cũng suy diễn trên các dữ liệu công khai, và cũng không suy diễn quá xa. Nhưng chính trị quốc tế thì khác. Những thông tin quan trọng nhất hiện nay là thông tin tình báo, thông tin mật trao đổi giữa các nguyên thủ, thông tin do thám, vệ tinh. Những thứ đấy các học giả chính trị quốc tế đâu có được biết. Cho nên những điều họ phán chủ yếu là thuyết âm mưu. Nghe cho vui tai thôi.

Đấy là điểm rất khác giữa chính trị quốc tế và các ngành kia. (Riêng kinh tế chính trị thì nhiều chủ đề được xếp vào nhóm ngành chính trị, bởi vì nhiều thứ không có thông tin.) Tôi làm nghiên cứu cho nên biết về sự khác biệt này, nhưng nhiều người khác thì không biết.

Dĩ nhiên hồi ký của các nguyên thủ cũng không phải hoàn toàn là sự thật, hoặc chỉ là sự thật dưới góc nhìn của họ, để phục vụ mục đích nào đó. Nhưng ít ra, họ được tiếp cận nhiều thông tin hơn, và tầm nhìn bao quát hơn cấp dưới. Những thứ đáng tin cậy nhất là các văn bản hiệp định, thư từ trên giấy trắng mực đen được lưu trữ, các băng ghi âm, ghi hình.

 

Sách giáo khoa ở Mỹ và Việt Nam

 Ở Mỹ, hiện nay có 41 bang thông qua Các Chuẩn Chương trình Giáo dục Chung (Common core curriculum standards). Chương trình Giáo dục Chung này bao gồm một số bộ sách giáo khoa được phê duyệt bởi Bộ giáo dục của 41 bang. Dĩ nhiên, bộ sách giáo khoa của mỗi bang vẫn khác nhau một chút do đặc thù về lịch sử, địa lý, và bộ máy hành chính của mỗi bang. Các bang còn lại phê duyệt các chương trình giáo dục riêng của bang, bao gồm các bộ sách giáo khoa, hoặc phê duyệt một phần Chương trình Giáo dục Chung.


Các trường phổ thông công lập không bắt buộc phải sử dụng các bộ sách giáo khoa được bang phê duyệt. Nhưng nếu họ sử dụng bộ sách khác thì sẽ không được bang tài trợ. Chính vì thế hầu hết các trường công ở Mỹ đều yêu cầu giáo viên sử dụng các bộ sách này. Giáo viên soạn bài giảng dựa trên các tài liệu được sách giáo khoa quy định, tuy nhiên cũng có thể tuỳ ý mở rộng thêm các tài liệu khác. 87% học sinh ở Mỹ học ở các trường công lập.

Các bang lấy tiền thuế của dân để tài trợ cho các trường công. Thế nên, không phải sách giáo khoa thích viết gì cũng được, mà phải được người dân ủng hộ. Một ví dụ, khoảng 63% người Mỹ theo đạo Thiên chúa cho nên tỷ lệ người ủng hộ Thuyết Sáng thế khá đông. Các nhóm phụ huynh đã nhiều lần đấu tranh để dạy Thuyết Sáng thế ở trong các môn Khoa học thay cho Thuyết Tiến hoá của Darwin. Một số khác thì muốn dạy cả hai. Hiện nay, chưa có bang nào thông qua việc dạy Thuyết Sáng thế trong các môn như Sinh Học, nhưng vẫn có thể được dạy trong các môn Giáo dục Công dân hay Triết học.

Ở VN, Bộ Giáo dục đã ban hành Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018, cho phép nhiều bộ sách giáo khoa và định hướng mở. Ngoài các bài học trong sách giáo khoa, giáo viên cũng được quyền mở rộng hơn nhiều.

Tuy nhiên, sách giáo khoa là tài liệu chuẩn để đa số giáo viên dựa vào đó để xây dựng bài giảng, thế nên cũng cần thoả mãn nhu cầu của công chúng. Năm 2022, sau khi bị nhiều người phản đối, Bộ Giáo Dục đã thay đổi quy định môn Lịch sử từ môn học tự chọn trở thành môn học bắt buộc. Hiện giờ, cộng đồng đang tiếp tục đấu tranh để môn Lịch sử trở thành môn thi bắt buộc của kỳ thi Tốt nghiệp Phổ thông.

Bài thơ “Bắt nạt” đang bị rất nhiều người bao gồm cả giáo viên, phụ huynh học sinh, và những người khác chê bai. Bộ Giáo dục cũng nên xem xét loại bỏ bài này ra khỏi sách giáo khoa, bởi vì chẳng được lợi lộc gì khi duy trì bài đó.

Giống như Mỹ, Bộ giáo dục VN không quản lý nội dung các bộ sách giáo khoa ở các trường tư. Chừng nào chúng không vi phạm pháp luật và luân lý thì vẫn được chấp nhận.

PS: Một bạn nêu ví dụ, một giáo viên ở Úc yêu cầu học sinh làm bài tập ở nhà: Hãy viết công thức nầu ăn một món ăn kinh tởm. Bạn đó cho rằng nếu ở VN, bài tập này sẽ bị phụ huynh phản đối kịch liệt giống như phản đối bài thơ “Bắt nạt”. Thật ra, đây là sáng kiến riêng của một giáo viên để tạo hứng thú cho học sinh. Ở VN hiện nay các giáo viên cũng có rất nhiều sáng kiến, trong đó có nhiều trò rất quái dị để học sinh hứng thú học bài. Cần phân biệt bài học chính trong sách giáo khoa với các sáng kiến riêng. Bởi vì bài học trong sách giáo khoa thể hiện cả trình độ của ban soạn thảo lẫn mục tiêu mà nền giáo dục của quốc gia cần hướng đến. Trong khi đó, một sáng kiến cá nhân chỉ ảnh hưởng rất hẹp trong phạm vi lớp học đó thôi.

Thật lố bịch khi một bài thơ kiểu "đường phố" lại chen vai thích cánh với những áng "thiên cổ hùng văn" trong một cuốn sách giáo khoa.

https://en.wikipedia.org/wiki/Common_Core
https://www.understood.org/en/articles/common-core-state-standards-what-you-need-to-know
https://en.wikipedia.org/wiki/K-12_education_in_the_United_States
https://en.wikipedia.org/wiki/Creation_and_evolution_in_public_education_in_the_United_States
https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-bo.aspx?ItemID=5755